LỜI NGỎ
Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng, ở vùng đất anh hùng (Ấp Bắc, xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho, nay là tỉnh Tiền Giang). Mới tròn 14 tuổi, tôi đi theo cách mạng tại địa phương 2 năm ở xã Tân Phú, nhận nhiệm vụ làm giao liên đưa thư và tham gia đoàn văn nghệ xã, được kết nạp vào Đoàn thanh niên năm 16 tuổi, cũng là năm tôi xung phong tòng quân. Tôi có mặt trong quân đội từ ngày 10-6-1964 cho đến năm 1982 là 19 năm, trong đó có 6 năm làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, cùng với 2 năm ở địa phương là tròn 21 năm (1962 - 1982).
Năm 1982, sau khi ở chiến trường Campuchia giúp bạn được xuất ngũ về nước, với sức người thương binh, trở lại chiến trường xưa lập nghiệp theo ngành trồng trọt, trở thành “Anh Bộ đội Cụ Hồ” làm trang trại nông nghiệp, trở thành nông dân sản xuất giỏi và được nhiều người đến học hỏi kinh nghiệm. Sau 2 năm làm kinh tế gia đình (1983 - 1984) và tham gia công tác ở địa phương, được đảng viên chi bộ tín nhiệm, Đại hội chi bộ ấp bầu làm Bí thư. Năm 1984, tôi làm Chủ tịch xã Ngãi Giao, năm 1985 làm Bí thư xã Láng Lớn, năm 1986 làm Giám đốc Công ty kỹ thuật cây trồng huyện, năm 1987 làm Phó Chủ tịch UBND huyện, năm 1991 làm Chủ tịch huyện, từ năm 1994 làm Bí thư Huyện uỷ 2 nhiệm kỳ, được tham gia vào BCH Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ khoá II, III và đến tháng 4 năm 2005 chuyển công tác về Tỉnh uỷ nhận nhiệm vụ Uỷ viên Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương 6(2) Tỉnh uỷ đến nay. Tính ra, tôi cũng đã có trên 24 năm tham gia xây dựng địa phương.
Qua hơn 44 năm tham gia cách mạng, có được vinh dự và hạnh phúc hôm nay, tôi mãi ghi nhớ công ơn của Đảng, của Bác Hồ và của những người đi trước, của những đồng đội đã chiến đấu hy sinh trên các chiến trường. Tôi đã chứng kiến bao đồng chí đồng đội thương bệnh binh mà tôi từng ôm ấp, từng xả thân chung lưng nhau trên chiến trường để cứu chữa trong những giây phút hiểm nghèo, giữa cái sống và chết, được đồng chí đồng đội thương yêu còn hơn ruột thịt, được nhân dân đùm bọc, đã động viên tôi suốt một đời chinh chiến và tham gia xây dựng địa phương.
Suốt đời tôi biết ơn Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã giáo dục, dìu dắt, lãnh đạo tôi từ một thiếu niên được kết nạp vào Đoàn và trở thành một đảng viên, một cán bộ trong quân đội và một cán bộ Đảng, Chính quyền phục vụ nhân dân.
Sự trưởng thành và hoàn thành các nhiệm vụ của tôi còn có phần công lao đóng góp của mẹ tôi là một đảng viên, của các chị tôi, và của người vợ thân yêu của tôi cũng là một gia đình giàu truyền thống cách mạng (có 1 người anh trai là liệt sỹ).
Tôi luôn sống thật với chính mình. Suy nghĩ về cuộc đời đã trải qua, tôi càng nhớ thương và không bao giờ quên những tình cảm thiêng liêng với bạn bè, đồng chí, đồng đội, tôi sẽ mãi mãi phát huy bản chất “Anh Bộ đội Cụ Hồ”, tiếp tục cống hiến sức lực cho đến cuối đời mình, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xứng đáng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” mà Đảng, Nhà nước trao tặng.
Châu Đức, ngày 30 tháng 4 năm 2006
Nguyễn Văn Tròn
TÔI SINH RA TRONG CUỘC CHIẾN TRANH ĐÁNH PHÁP VÀ LỚN LÊN TRONG CUỘC CHIẾN TRANH CHỒNG MỸ
Tôi sinh năm 1948 (Mậu Tý) tại xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho, nay là tỉnh Tiền Giang, trong một gia đình bần nông nghèo khó, sống bằng nghề làm ruộng, sản xuất lúa nước kết hợp với chăn nuôi. Gia đình tôi có 8 anh chị em, bị chết lúc mới sinh hai người (một anh trai và một em trai ), còn lại 6 người gồm ba chị gái và một em trai, một em gái. Cha (tía) tôi mất sớm, do bị bọn Pháp bắt đánh đập nặng (chết do bệnh năm 1961).
Mẹ lao động vất vả nuôi con, làm ruộng, đi làm thuê cấy lúa, nấu rượu, đi mua lông vịt để bán lại cho mối. Mẹ còn thêm gánh nặng phải nuôi cậu (em trai ruột của mẹ) được tổ chức phân công nằm lại không ra Bắc tập kết (cậu đã hy sinh năm 1970, chức vụ: Tỉnh đội trưởng tỉnh Gò Công).
Ba chị ruột cũng là lao động chính cùng với mẹ, do gia đình nghèo không được học. Chỉ một mình tôi được đi học trường làng, học đến lớp nhì thì bỏ học.
Khi lên tuổi 14, tôi được mẹ kể và nhắc nhở: “Cậu con là người cách mạng, các anh bên nội, ngoại của con cũng theo cách mạng hết rồi, còn con, mẹ muốn gởi cho cậu (Cậu Út), con chịu theo cậu không?”. “ Con muốn xin mẹ theo cậu, mấy lần cậu ghé lúc đêm khuya, con thức nhưng mẹ tưởng con ngủ, con nghe nói chuyện to nhỏ con biết hết, có đêm cậu dẫn về nhà 15 - 20 người, con nghe mẹ hỏi cậu út bao nhiêu người để đi mua cơm về ăn đêm”. Bà thím (thím dâu) bán quán bên kia dường cách nhà khoảng 15 mét, mỗi lần đi mua phải qua đường, đêm khuya tụi biệt kích đồn thường xuống ẩn núp theo gốc bình bát và gốc trâm bầu, khi đi phải nhìn trước nhìn sau. “ Con sợ mẹ không cho và cũng sợ cậu thấy con còn nhỏ quá cậu không nhận, mẹ thì cho đi mà cậu không nhận thì làm sao?”. Tôi luôn trăn trở. Một lần đêm khuya cậu ghé, lo ăn uống xong mẹ nói riêng với cậu: “ Thằng Tròn nó thích đi theo cậu Út mày được không?”. Tôi nghe cậu trả lời: “Cháu còn nhỏ quá, cho nó cầm súng ra chiến đấu không được đâu. Nếu mỗi lần đi hành quân chiến đấu để nó ở nhà thì anh em đơn vị nói, vì cậu cháu mới để ở nhà, thì khó lắm.”. Nhiều lần mẹ nói, cậu trả lời “không được, khó khăn lắm chị ơi.”. Tôi không xin nữa, tôi tìm gặp các anh chị ở xã Tân Phú, trực tiếp gặp anh Hai Phấn con người bác Ba - làm Bí thư xã, anh Hai Lai làm xã đội, chị Tám Nghề làm phụ nữ xã, xin tham gia công tác. Cả hai anh và chị nói: “ Đã có ý định gặp em để vận động em tham gia phong trào cách mạng địa phương vì gia đình mình là cách mạng”. Thế là được tham gia công tác ngay tại địa phương, tôi vô cùng phấn khởi. Anh Hai Phấn (Bí thư xã) phân công nhiệm vụ đi đưa thư từ ấp Tân Hoá đưa vào xã đội (Ấp Bắc) gặp anh Hai Lai. Mỗi lần đi đưa thư vào xã phải băng qua một cánh đồng ruộng lớn, lính ở đồn bót Tân Hòa đều thấy, tôi phải lén lút giả người đi chăn vịt và chăn trâu. Tôi vừa làm nhiệm vụ đi đưa thư vừa đi học đờn vọng cổ và cả học đờn tân nhạc (mandoline), sau đó được các anh đưa vào đoàn văn nghệ xã, đóng nhiều vai diễn khá hay, được khán giả khen như vai Ngô Đình Diệm và Trần Lệ Xuân (đóng giả gái !).
Năm 1963 diễn ra trận đánh ấp Bắc, địch khủng bố ác liệt. Sau trận đánh ấp Bắc, nhân dân nguyên xã Tân Phú dồn vào ấp chiến lược cặp theo quốc lộ 4. Gia đình tôi không đi, tôi và mẹ lén lút ở lại với mái che bằng rơm. Còn hai em mẹ gửi cho người chị hai ở bên giồng. Mẹ tôi bị thằng đồn trưởng ấp Tân Hoà nghi ngờ tại sao chống không vào ấp chiến lược, ở lại nuôi Việt Cộng (Cậu Út)? Mẹ tôi bị thằng đồn trưởng khi bắt, khi thả, khi mời lên đồn nhiều lần để điều tra. Mẹ tôi bị bắt giữ rồi được thả ra để theo dõi, rồi lại đến tôi cũng bị lính đồn Điềm Hy theo dõi, nghi tôi là thằng chăn vịt và chăn trâu giả. Có lần tôi vượt qua đường số 4, chiều khoảng 5 giờ để vào ấp Bắc, thằng lính ngồi trên lồng cu gác phát hiện bắn chỉ thiên và 5 thằng lính đồn Điềm Hy chạy theo bắt tôi. Tôi cũng vừa chạy vừa chỉ bầy trâu nói tôi chăn trâu. 5 thằng bao vây bắt tôi, “thằng Việt Cộng con - mày vào ấp Bắc làm gì, mày giả chăn vịt, chăn trâu phải không?”. Tôi đi thường mặc quần đùi và xách một cái túi bằng đệm, trong túi có một quần đùi và một cái áo. Mấy thằng lính xét túi tôi thấy chỉ có thế, chúng trói dẫn tôi vào đồn. Đi qua một tiểu đoàn nguỵ vừa mới càn trong ấp Bắc ra, mấy thằng lính la lên: “Thằng Việt cộng con, đúng rồi, bắn nó đi”. 3 thằng lính chạy theo sau vừa đá, vừa đập tôi nói “Mày phải khai, trong ấp Bắc còn Việt Cộng không, ông già mày phải Việt Cộng không?”. Tôi trả lời: “ Ông già tôi bị lính Pháp bắt đánh bị bệnh chết rồi”. Sau đó một thằng to con mang súng ngắn tới la lên “ không được đánh nó”. Thằng lính này dùng lời lẽ nhẹ nhàng dụ dỗ hỏi tôi về hoàn cảnh gia đình, cha mẹ và anh em cuộc sống như thế nào, tại sao không đi học mà lại đi chăn vịt, chăn trâu. Tôi trả lời thật theo tôi hiểu, ba tôi bị lính Pháp bắt đánh đập bị bệnh chết sớm, ba chị có chồng, chỉ còn mẹ tôi và hai em nhỏ, gia đình sống nghề làm ruộng, gia đình nghèo nên mẹ tôi đi mua lông vịt để bán lại, tôi bỏ học để phụ giúp mẹ nuôi hai em, đi làm thuê giữ vịt và chăn trâu. Nó cười và sờ đầu tôi hỏi “Có đói bụng không, chút có người đem cơm lại cho ăn”. Nói xong nó bỏ đi, một chút có một phụ nữ ăn mặc sang trọng đem cơm tới, nói nhẹ nhàng biểu tôi ăn cơm rồi bỏ đi. Tôi rất đói vì cả chiều ngày trước và một đêm đến sáng ngày sau mới thấy cơm, nhưng tôi không ăn, chỉ uống một chén nước. Tôi nhớ khoảng 10 giờ sáng, thằng đồn trưởng đồn Tân Hoà tới, nói : “Mẹ mày nhờ tao tới đây bảo lãnh thả mày”. Hai thằng đồn trưởng nói nhỏ với nhau rồi chỉ tôi nói : “Mày nhỏ, từ đây mày không được vào ấp Bắc nữa, về ấp chiến lược ơ’”. Tôi về ấp chiến lược không có nhà ở, phải ở đậu nhà thím dâu, tôi trông cho mau tối để ra hàng rào ấp chiến lược. Tối đến, không thấy thằng lính nào gác, tôi chui qua hàng rào kẽm gai rồi chạy một hơi vào ấp Bắc. Rồi lần lần dân ở ấp chiến lược cũng bỏ về nơi cũ, phong trào đang trỗi dậy.
Tôi trưởng thành, đầu năm 1964, lên tuổi 16, được kết nạp vào Đoàn thanh niên. Khi vào Đoàn, tôi gặp anh Hai Lai, tôi nói: “ Cậu Út không cho theo cậu, mẹ tôi thì muốn tôi theo cậu. Hồi tối tôi tập văn nghệ có gặp mấy chú bộ đội mùa Thu tập kết ở miền Đông về miền Tây lấy quân, nhu cầu đông lắm, cả đại đội lận, nhưng mới nhận được 5 - 6 người ở xã Mỹ Phước Tây, các chú mới ra xã mình để vận động tòng quân”. “Tròn có đi không?”. Tôi nghe mừng quá, trả lời: “Tôi thích đi bộ đội chủ lực miền Đông xa nhà, nghe mấy chú bộ đội mùa Thu kể lên miền Đông vui lắm”. Anh Hai hỏi “ Tuổi Tròn nay bao nhiêu”, trả lời “16 tuổi”. “Để anh hỏi đoàn nhận quân được không”. Rồi trông anh Hai trả lời, đêm nào đi tập văn nghệ cũng muốn gần mấy chú bộ đội, và được mấy chú dạy thêm nhiều bài hát cùng hát với các chú. Và tôi mạnh bạo nói : “Cháu muốn đi bộ đội chủ lực miền Đông theo các chú được không?”. “ Đợt này giao cho xã vận động, cháu gặp xã đi”. “Cháu gặp rồi mà xã chưa trả lời”. Ba ngày sau, chị Tám Nghệ phụ nữ xã gặp tôi nói: “Được rồi, ngày lễ giao quân Tròn lên nói lời tình nguyện xung phong tòng quân”. Tôi mừng quá, đi vận động thêm ba đứa bạn trong đoàn văn nghệ để cùng đi. ba đứa bạn đồng ý nhưng sợ cha mẹ không cho. Tôi mới nói, “ đừng cho cha mẹ biết, mấy đứa mình trốn đi lên miền Đông xa lắm, không tìm được đâu”. Tôi cũng không cho mẹ biết vì biết mẹ muốn mình đi theo cậu. Ba đứa bạn tên là Bay, A và Khu, tuổi lớn hơn tôi 1 - 2 tuổi, đủ tuổi tuyển quân, riêng tôi 16 tuổi, chỉ chờ đợi ngày tuyển quân. Lúc này các bạn nữ vui mừng động viên, đi may ba lô, mua tập viết tặng cho nhau. Cuối cùng rồi cha mẹ của bốn anh em đều biết hai ngày nữa là lên đường.
NHỮNG NĂM THÁNG TRONG QUÂN NGŨ
Ở CHIẾN TRƯỜNG MIỀN ĐÔNG "GIAN LAO MÀ ANH DŨNG" CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
Ngày 10-6-1964, buổi lễ tuyển quân, đông đủ cha mẹ, anh em vui buồn động viên đưa con lên đường làm tròn nhiệm vụ. Hành quân suốt 1 tháng tới chiến khu T1, vượt qua biết bao nhiêu bót đồn, vượt đường qua Đồng Tháp Mười, qua sông, qua suối, phải có sự quyết tâm rất cao mới tới đích. Có những đồng chí bàn lén với nhau để trốn trở lại quê, làm cho các chú đoàn dẫn quân đêm tối phải canh gác, riêng tôi được các chú tin tưởng, cho rằng là một đồng chí trẻ nhưng lập trường rất vững vàng và ý chí quyết tâm cao. Đến rừng mới biết “ Miền Đông gian lao mà anh dũng”.
Một tháng huấn luyện tại trường, bước đầu đi vào nề nếp, rèn luyện nội quy và học tập chiến đấu, tôi là một đứa trẻ nhất ở trường nên được nhiều anh thương mến. Tôi hết sức chịu khó học tập và nhiệt tình tham gia các phong trào tổ chức Đoàn như thể dục, thể thao, văn nghệ và cả trong lao động. Nhà trường ở vùng ven chiến khu, hàng ngày có 2 - 3 lần máy bay địch bỏ bom, đời sống vật chất thiếu thốn, cơm độn với khoai mì. Giờ mới biết miền Đông rừng sâu, nước độc, bệnh tật, sốt rét liên miên kéo dài. Một số đồng chí dao động, tiếp tục rủ nhau cùng bỏ trốn về quê. Tôi rất vững vàng, lúc nào cũng vui vẻ, ngày học tập ngoài thao trường, tối lại tham gia văn nghệ, khi cuối khoá được ban huấn luyện và chi đoàn nhà trường tặng thưởng giấy khen do có thành tích học giỏi và tham gia hoạt động của Đoàn. Sau khóa học được bổ sung về đơn vị chiến đấu C250 của T1 (đơn vị trợ chiến cối 81 ly). Đi vào hậu cứ rừng sâu, đời sống vật chất càng khó khăn hơn và bệnh sốt rét càng dữ hơn. Nhiệm vụ của đơn vị vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất. Được vui là ba anh em bổ sung chung một đơn vị C250. Tôi nhỏ tuổi, các thủ trưởng từ tiểu đội, trung đội và đại đội không cho đi chiến đấu vì súng cối, đạn cối nặng, mỗi lần sinh hoạt chuẩn bị đi chiến đấu tôi lại được phân công ở nhà. Buồn quá, tôi gặp đồng chí trung đội trưởng (anh Hai Lô- anh có đặc biệt là hay ăn cơm nguội ), xin cho tôi mang đạn cối coi được bao nhiêu quả. Đồng chí cũng không cho, rồi phân công tôi đi giữ rẫy đừng để thú rừng vào ăn. Sáng dở cơm gạo lức xay độn với mì ăn với đậu phụng rang muối, có bữa được thịt rừng kho mặn. Mang 1 khẩu ca bin từ đơn vị đi tới rẫy khoảng 30 phút. Suốt cả 3 tháng một mình giữ 100 ha rẫy mì giữa rừng già chiến khu (sáng 6 giờ đi, chiều 4 giờ về), đi xung quanh rẫy đập thùng thiếc để gây tiếng vang làm cho thú rừng sợ không vào phá rẫy. Trưa vào gốc cây ăn cơm nghỉ 1 giờ. Ở đơn vị có nguyên 1 tiểu đội cán bộ các chú tập kết về, các chú rất thương mến tôi vì mỗi lần đi về giữ rẫy phải qua ngang tiểu đội các chú. Tôi được các chú khen chấp hành giờ giấc tốt lắm. Các chú hỏi đi giữ rẫy một mình có buồn không, sợ thú rừng không? Tôi nói, tôi xin đi chiến đấu mà các thủ trưởng không cho, phân công đi giữ rẫy, phải cố gắng, có súng thì không sợ. Rồi các chú biểu tôi tối ra các chú chơi. Vậy là tối nào cũng ra các chú chơi, nấu nước bằng lon sữa bò cho các chú uống trà và nghe các chú kể chuyện thời kỳ đánh Pháp và hành quân vượt Trường Sơn về Nam đánh Mỹ. Rồi các chú cho tập, viết và dạy học bổ túc văn hoá. Ngày giữ rẫy, đêm ra các chú học. Suốt 3 tháng, ở rừng già nước độc, tôi bị sốt rét kéo dài rụng hết tóc, người xanh xao, các chú lớn thường gần gũi động viên tôi, dành cho tôi từng ly sữa, từng miếng thịt rừng. Các chú rất thương mến tôi vì tôi là đứa nhỏ nhất trong đơn vị, được các chú thương yêu dạy bảo đến nơi đến chốn về mọi mặt. Sau đó, thấy tôi sức khoẻ yếu do bệnh sốt rét kéo dài, vừa nhỏ không thể hành quân và vác không nổi bộ phận súng cối 81 ly, các chú cho tôi đi học khoá cứu thương 3 tháng ở trường T1 (Quân khu).
Đến trường cứu thương, tôi vừa học vừa tham gia các phong trào ở nhà trường, cả lao động sản xuất cải thiện thêm đời sống cho học viên. Tôi luôn tham gia tích cực, kể cả giờ nghỉ, và luôn nhận những công việc nặng nhọc cho các chị học viên nữ, được nhiều người thương mến. Tổng kết cuối khoá, tôi được nhà trường tặng giấy khen.
Tháng 4 năm 1965, tôi trở về đơn vị đơn vị trợ chiến của quân khu (T1) và các đơn vị khác thành lập trung đoàn 4 (E4), đơn vị cối 81 đổi tên thành C16 đại đội trợ chiến của trung đoàn. Nhiệm vụ của tôi là cứu thương phục vụ chiến đấu ở trung đội 2. Thêm một tuổi đời (17 tuổi), được làm quen với rừng sâu, vượt qua bệnh sốt rét, sức khoẻ phục hồi trở lại. Mỗi lần hành quân chiến đấu, ngoài túi cứu thương và đồ cá nhân, tôi mang thêm một quả đạn cối. Có lúc hành quân xa xôi, tôi xung phong thay đổi với các đồng chí vác súng cối 81 ly. Tôi tập vác từ nửa giờ rồi đến một giờ hành quân. Ngoài nhiệm vụ chuyên môn, tôi còn tranh thủ thời gian rảnh học thêm cùng với các đồng chí pháo thủ các chức năng và ứng dụng bài tập thành thạo các thao tác của súng cối 81 ly, các vị trí pháo thủ như số 1,2,3. Do vậy, khi chiến đấu, lúc cần thiết có thể thay thế được các vị trí khi các pháo thủ chính bị thương hay hi sinh. Ngoài ra, tôi còn học hớt tóc do đại đội phó Hai Lô bày cho ( anh em đơn vị đặt anh là anh Hai Cơm Nguội (vì anh thích cơm nguội). Anh Hai Lô rất thương mến tôi từ khi về đơn vị C250. Anh giao tôi một bộ tông đơ và anh biểu tôi tập hớt cho anh trước. Tôi nói tôi không dám, anh nói đơn vị phải có người biết cắt tóc, “ tôi thấy đồng chí có thể cắt được, phải tập để cắt cho anh em đơn vị ”. Nghe anh nói nhiều lần tôi mới cắt. Lần đầu cắt thì quá xấu, nhưng đồng chí đại đội phó xung phong trước rồi thứ tự đến các đồng chí khác. Tập cắt cho nhiều người dần dần rồi cũng đẹp. Tôi trở thành thợ hớt tóc cho đơn vị, rất phấn khởi. Trong ngày chỉ được cắt vào giờ trưa và giờ chiều (giờ nghỉ). Tôi vừa cứu thương, vừa thay pháo thủ khi cần, vừa thợ cắt tóc cho đơn vị.
Từ năm 1965 - 1967 tôi phục vụ ở trung đội cối. Qua các trận pháo kích và tập kích bằng hoả lực, các trận đánh hỗ trợ cùng với bộ binh trung đoàn, tôi tham gia trực tiếp nhiều trận chiến đấu ác liệt, một số trận ác liệt đáng nhớ mà tôi cùng tập thể trung đội tham gia như: Trận tập kích hoả lực vào căn cứ Suối Râm với trên 300 viên đạn cối 81 ly, phá huỷ trên 100 xe địch, làm chết và bị thương nhiều lính Mỹ, làm cháy kho xăng dầu (E11 thiết giáp Mỹ vừa đến lập căn cứ). Đầu năm 1966, trận tập kích vào tàu chiến Mỹ ở Hàm Tân, thị xã Phan Thiết, với số đạn 200 viên súng cối, đồng chí pháo thủ số 2 bị điếc tai, tôi liền có mặt thay thế, tôi bắn liên tục với số lượng đạn súng cối từ 30 -50 viên đạn súng cối 81 ly. Tôi cũng đã tham gia trận đánh tập kích cùng với D1 bộ binh đánh tiêu diệt DBB/lữ 199/ sư 1 Anh Cả đỏ Mỹ ở suối Tầm Bó, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Long Khánh. Trận đánh dùng hoả lực súng cối 82 ly bắn 50 viên đạn vào đúng vị trí co cụm của lính Mỹ, đạn pháo ta nổ vang rừng Tầm Bó, bộ binh xuất kích đánh tiêu diệt lính Mỹ. Lịch sử đầu tiên được nghe lính Mỹ la khóc vang cả khu rừng Tầm Bó, trận đầu tiên diệt Mỹ. Sau chiến đấu tôi cùng các đồng chí trong đội cối phải tiếp sức khiêng cáng số thương vong chôn cất, đưa xuống bưng Bàu Sen giấu thương binh trong những lùm tre già và chăm sóc các đồng chí thương binh lúc nào cũng kêu khát nước do mất nhiều máu. Tôi phải động viên không được uống nhiều, chỉ nhúng khăn vào nước để vắt từng giọt nhỏ cho các đồng chí thương binh rồi chuyển thương binh về tuyến sau an toàn rồi cùng với D1 và D2 đánh tập kích bất ngờ, cơ bản tiêu diệt tiểu đoàn cơ giới Mỹ, bắn cháy 78 xe các loại trong trận Kim Long II . Vào đầu năm 1967, tôi tham gia trận đánh tập kích vào đại đội biệt động nguỵ đóng dã ngoại ở Phước Hoà trên đường 15, tỉnh Bà Rịa - Long Khánh . Sau khi D2 đánh tập kích không thành công, anh em bị thương vong cao. Đơn vị tôi lúc đó không được tham gia cùng với D2 bộ binh, ở nhà dự bị. Sau đó cùng với D1 bộ binh được lệnh trung đoàn nhanh chóng ra trận địa lấy thương binh và tử sỹ của D2 về để cứu chữa và chôn cất. Khi nghe lệnh của đồng chí trung đội trưởng, tôi xung phong ngay. Tôi ra vào tới 3 - 4 lần tại trận địa để đưa các đồng chí thương binh về cứu chữa. Và với 1 cái cuốc Mỹ, tôi cùng với đồng đội đào 4-5 cái huyệt để chôn đồng chí mình đã hy sinh. Tôi còn nhắc các đồng chí khác phải đào sâu, ngay ngắn, đúng kích thước và trước khi chôn các đồng chí mình phải làm các thủ tục chặt chẽ và kỹ lưỡng. Chôn cất vừa xong, lại có lệnh của trung đoàn phải đánh trả thù cho D2. Tôi được sự tin tưởng và yêu mến của đồng chí Tiêu, là trung đội trưởng đồng thời là cấp uỷ viên chi bộ và tổ trưởng Đảng. Đồng chí nói cấp uỷ và tổ Đảng phân công đồng chí theo dõi, giúp đỡ tôi vào Đảng. Đồng chí luôn động viên tôi, giúp tôi am hiểu về chính trị, về Đảng cộng sản. Tôi học thuộc lòng cuốn Điều lệ Đảng. Các đồng chí trong chi bộ thương mến, giáo dục bồi dưỡng tư tưởng, củng cố lập trường quan điểm cho tôi để kết nạp tôi vào Đảng. Rồi diễn ra trận đánh bất ngờ trả thù cho D2 ác liệt kéo dài từ 1 giờ khuya đến 8 giờ sáng trên 1 đoạn đường dài cặp hai bên đường 15 (xã Phước Hoà, tiêu diệt gọn đại đội biệt động ngụy. Trận địa cối đặt kề cận với bộ binh, tầm bắn rất ngắn để đảm bảo chính xác. Cối bắn tấp nập 30 viên vào ngay vị trí đóng quân địch, rồi trận địa cối cũng bị lộ vì ở giữa trảng tranh. Ta bị phản pháo đúng ngay vị trí trận địa cối, một số đồng chí hy sinh và bị thương, không đủ sức bắn trả và nguy cơ không đủ sức cơ động pháo khi có lệnh rút. Tôi rất bình tĩnh và lăn xả vào ngọn lửa cháy của tranh để băng bó các đồng chí thương binh, rồi cõng đưa xuống đường xe bò nằm để tránh đạn. Tôi nhìn thấy hai khẩu cối vẫn còn ngóc đầu mà không thấy đồng chí pháo thủ nào. Rồi tôi nghe tiếng ra lệnh của đồng chí trung đội trưởng, liền lấy khẩu súng AK của các đồng chí bị thương, bò tới đồng chí trung đội trưởng và tôi chạy xông lên trận địa pháo. Tôi cùng với đồng chí trung đội trưởng tháo 2 khẩu cối 81 ly hạ xuống và kéo từng bộ phận đưa xuống đường hầm xe bò, lấy cỏ tranh đậy lên và đào cát lấp lại 2 khẩu cối, rồi cõng thương binh, tử sỹ đưa vào rừng trước. Sau đó trở lại moi 2 khẩu cối đưa về tới điểm tập kết an toàn. Đến điểm tập kết, tất cả đều quá sức mệt mỏi, tôi xung phong đi đào huyệt chôn cất anh em hy sinh của D1 tại cùng vị trí các mộ của liệt sỹ D2 tập trung một chỗ. Trong trận đánh ác liệt này, đơn vị D1 có đồng chí Đặng Văn Đậu chiến đấu dũng cảm, được đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân sau này.
Sau thử thách trong trận chiến đấu này, ngày 07- 4 - 1967, mới tuổi 19 tôi được vinh dự lớn đứng vào hàng ngũ Đảng.
Mùa mưa năm 1967 diễn ra trận đánh ác liệt với chư hầu Úc ở Tân Rú xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc. D2 bộ binh của trung đoàn và C16 súng cối 81 ly dùng hoả lực cùng với bộ binh đánh diệt tiểu đoàn Úc. Như vậy ba lần tôi được tham gia đánh cấp tiểu đoàn, một lần đánh tiểu đoàn Mỹ ở Tầm Bó, một lần đánh tiểu đoàn Úc ở Tân Rú, Bàu Lâm, một lần đánh tiểu đoàn cơ giới Mỹ ở Kim Long II, đánh thắng hoàn toàn.
Năm 1967 trở đi, chiến trường miền Đông nói chung và chiến trường Long Khánh - Bà Rịa nói riêng đã diễn ra ác liệt, gian khổ hơn bất cứ lúc nào do hậu cần khó khăn và sự đánh phá của Mỹ, ngụy, chư hầu Úc, Thái Lan.
Sau trận đánh Úc, chiến trường tam giác thép ngày càng ác liệt, đường số 1, đường số 2, đường số 15 bị địch vây chặt, mỗi lần cáng đưa thương binh về tuyến sau thường bị lọt vào ổ biệt kích, phải đánh nhau, thương binh dễ bị thương lần hai. Lúc này tất cả căn cứ phải đào hầm ngủ, các đơn vị của trung đoàn đều ăn nghỉ trên miệng hầm, ngủ dưới hầm. Ta thiếu gạo, muối, thuốc men, nhưng vẫn bám trụ khu tam giác thép, thường xuyên cắt rừng qua đông và tây lộ 2 và lộ 1. Địch dùng hoả lực, bom pháo dày đặc, thương binh phải đưa xuống hầm để chăm sóc điều dưỡng. Khi số lượng đông phải tập trung lực lượng cáng thương hộ tống và có lực lượng trinh sát cắt rừng nhiều cánh làm sao đưa được thương binh lọt về tuyến sau an toàn. Tôi vừa cáng thương vừa hộ tống đưa thương binh về tuyến sau nhiều chuyến được an toàn. Mỗi khi nghỉ giải lao 10 phút, tôi thường không nghỉ, đi từng cáng thương để đút cho thương binh ăn uống. Vì vậy thương binh rất thương mến, khi lành vết thương trở lại chiến trường gặp tôi với tình cảm thân thiết như anh em ở trong gia đình. Tôi rất cảm động khi trong lúc đói khổ các anh kiếm được những món ăn cũng dành dụm gửi qua đơn vị cho tôi.
Tôi lại tiếp tục đưa thương binh về tuyến sau, khi quay về trên đường bị lọt vào vùng B52 ném bom, tôi bị thương nặng, vết thương nặng chạm dây thần kinh đùi và một vết mảnh bom trên đầu (các đồng chí phải cáng tôi quay lại bệnh viện 1500). Sau 3 tháng nằm bệnh viện được các y, bác sỹ và hộ lý chăm sóc tận tình làm cho tôi nhớ lại khi tôi còn khoẻ đã phục vụ thương binh tận tình hôm nào.
Khi vết thương lành, tôi trở về đơn vị (C16,E4), các đồng chí vui mừng, đơn vị được lệnh điều động nguyên trung đội 2 (B2 cối 81 ly) về nhận nhiệm vụ ở đơn vị phân khu 4 (xuống rừng Sác). Đồng chí Tiêu, trung đội trưởng đi nhận nhiệm vụ về, tôi nhớ lúc đó khoảng 8 giờ tối, gặp tôi, nói tôi được ở lại để đi học khoá y tá ở C23 đội phẫu trung đoàn. Đồng chí Tiêu ôm tôi khóc mà nói, tối nay anh em mình ngủ chung một võng để tâm sự chia tay. Tôi và đồng chí Tiêu có những tình cảm thân thiết, sống chết có nhau. Chúng tôi ôn lại kỷ niệm trận đánh ở xã Phước Hoà ngày ấy, đồng chí đã đề nghị và giới thiệu kết nạp tôi vào Đảng. Sáng sớm hôm sau đơn vị hành quân về phân khu 4. Tuần sau, đồng chí y tá đại đội (C16) gặp tôi trao giấy tờ, tôi đến C 23 để học y tá. Tôi gặp đồng chí đại đội C23 giao giấy tờ, được tiếp nhận nhưng chưa được phân công cụ thể nhiệm vụ ở đâu. Tôi gặp lại đồng chí Bay ở quê hương cùng tòng quân, vui mừng kể chuyện anh em xa cách những năm qua. Ngày hôm sau, các đồng chí trong đại đội và nhiều đồng chí khác nhìn tôi hơi bỡ ngỡ. Tôi mới hỏi đồng chí Bay:“ Tại sao tao chưa được phân công nhiệm vụ ở tổ nào?”. Bay lại hỏi tôi, “ mày được vào Đảng rồi hả, cũng được phong hạ sỹ nữa phải không?”. Tôi trả lời, “ Tao được vào Đảng hồi tháng 4 năm 1967 sau trận đánh ác liệt trả thù cho D2 và được phong hạ sỹ”. Bay nói tiếp, “Các anh ở đây ngạc nhiên thấy mày là một đảng viên trẻ, khó phân công”. Rồi sau đó đồng chí cấp uỷ mời tôi dự sinh hoạt tổ Đảng và giới thiệu tôi cho đảng viên tổ Đảng và phân công sinh hoạt tổ. Trong tổ Đảng có các đồng chí lớn tuổi, chuyên môn là bác sỹ và y sỹ, còn tôi vừa nhỏ, chuyên môn thì mới chỉ cứu thương. Tôi được đồng chí trung đội trưởng phân công làm nhiệm vụ quản lý và mang bộ dụng cụ đại phẫu và ở tổ phòng mổ. Anh nói, “ đồng chí phải có trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn bộ dụng cụ đại phẫu để giải phẫu cứu chữa thương binh ở tuyến đầu. Với vai trò trách nhiệm của người đảng viên, đồng chí phải cố gắng học cho thuộc lòng hết các dụng cụ của bộ đại phẫu”. Vậy là tôi phải vừa học chuyên môn y tá, vừa được đồng chí trung đội trưởng chỉ dẫn học thuộc lòng bộ y cụ, bộ dụng cụ đại phẫu nặng gần 30 kg. Trong suốt thời gian vừa học vừa phục vụ chiến đấu, trên vai (ngoài đồ dùng, trang bị cá nhân) luôn có bộ dụng cụ đại phẫu. Tôi học thuộc lòng hết dụng cụ đại phẫu và được đồng chí trung đội trưởng và đồng chí tổ trưởng phòng mổ giao làm nhiệm vụ dụng cụ viên. Nhiệm vụ chính của tôi vừa học y tá, vừa học hỏi nâng cao tay nghề phục vụ kịp thời các cuộc phẫu thuật từ đại phẫu đến trung phẫu cho thương binh. Được gần gũi với các đồng chí y, bác sỹ các cuộc giải phẫu ở tuyến đầu giúp tôi học hỏi nhiều kinh nghiệm. Những ca giải phẫu nặng trọng thương, được tiếp cận lâm sàng gần gũi với thương binh, tôi đã tranh thủ mọi thời gian có được vừa làm nhiệm vụ của dụng cụ viên trao đúng, kịp thời các y cụ phẫu thuật cho phẫu thuật viên chính và phụ, vừa học thêm nghiệp vụ của y, bác sỹ mổ chính, cả trong cấp cứu gây mê hồi sức và điều trị hậu phẫu. Với lòng yêu nghề và tinh thần phục vụ tận tình, trong các cuộc mổ tại đội phẫu và cấp cứu thương binh ở ngay chiến trường, tôi thường thức trắng đêm bảo vệ và chăm sóc thương bệnh binh. Tôi còn phải lo hấp dụng cụ để phục vụ kịp thời cho những ca mổ tiếp theo và còn được thủ trưởng, anh em đơn vị cảm mến trong lao động, như đào hầm mổ và hầm ngủ, cưa cây và cải thiện đời sống, cả làm anh nuôi nấu cơm và nấu thức ăn rất ngon. Tôi thường gương mẫu không ngại nặng nhọc đào hầm và cưa cây, không bao giờ than van trước những khó khăn và ác liệt, tư tưởng luôn vững vàng. Ngoài ra, tôi còn tham gia phong trào văn nghệ ở đơn vị. Tôi thường thích ca bài “ Tiểu đoàn 307”, “ Chiếc khăn tay” và bài ca “ Kết đoàn”, có khi một mình ngồi ôm cây đàn Mandoline, đàn ghi ta vừa đờn vừa ca trong những đêm khuya.
Cuối năm 1967, tôi được đơn vị bình chọn bầu tôi là chiến sỹ thi đua cấp trung đoàn lần 1. Hội nghị thi đua diễn ra giữa chiến trường ác liệt, phải cắt rừng đi tìm chỗ tổ chức hội nghị. Tôi được báo cáo thành tích điển hình và được đồng chí chủ nhiệm chính trị trung đoàn gắn trên ngực tấm huy hiệu Bác Hồ đầu tiên (tôi luôn giữ gìn đến giờ). Đây là một vinh dự lớn cho tôi. Hội nghị chiến sỹ thi đua cấp trung đoàn, các đại biểu xuất sắc mọi nơi được hội tụ gặp nhau vui mừng, được trung đoàn cho ăn một bữa cơm trắng no (không độn) với thịt cá hộp, rồi lại chia tay trở về đơn vị tiếp tục nhiệm vụ để giữ vững được danh hiệu là người đại biểu xứng đáng của đơn vị.
Năm 1968, trên chiến trường Bà Rịa, lính Mỹ, Úc, Thái Lan với máy bay, thiết giáp, pháo binh cùng bộ binh chia khu vực càn quét, đánh phá, cả khu vực tam giác thép không có phân chia đâu là phía trước, đâu là phía sau. Mỗi một tiểu đoàn, đại đội trong trung đoàn phải có từ 5 - 7 căn cứ dự bị để chiến đấu và di chuyển. C23 quân y lúc này chia thành 3 đội phẫu, xuống tận đội hình tiểu đoàn, cũng phải có từ 5 - 7 căn cứ. Đơn vị tập trung ưu tiên đào hầm mổ trước để cứu chữa thương binh. Tôi được phân công ở đội phẫu II. Trong thời gian này, không có tuần nào là không xảy ra chiến đấu chống càn, đánh tập kích của địch bằng xe tăng và máy bay, không có tuần nào là không có thương binh. Đội phẫu thuật phải nuôi dưỡng thương, bệnh binh và hành quân thay đổi căn cứ liên tục (không có phía trước phía sau). Tôi đã rèn luyện cho mình tinh thần trách nhiệm, kỷ luật, tính ngăn nắp và luôn ở tư thế sẵn sàng, thường xuyên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ một dụng cụ viên, kịp thời phục vụ phẫu thuật, đồng thời làm nhiệm vụ bảo vệ chăm sóc thương binh. Trong điều kiện ở chiến trường chiến đấu ác liệt, mỗi lần hành quân di chuyển căn cứ, trên vai tôi ngoài thùng dụng cụ ra, còn có một khẩu AK, đồ dùng cá nhân, lại còn phải cáng thương binh. Tôi vinh dự được từ thủ trưởng đến anh em đơn vị khen ngợi, vì ngoài việc phục vụ thương binh, còn là một người xuất sắc trong việc đào hầm mổ. Các đồng chí thủ trưởng nói vui, đồng chí Tròn đủ tiêu chuẩn cấp bằng y tá rồi, vì đồng chí đào hầm quá xuất sắc để cứu chữa thương bệnh binh.
Đến tháng 4 năm 1968, tôi nhận được nhiều quyết định nhất của thời gian tôi tham gia quân đội, được xét chuyển Đảng chính thức, được phong quân hàm trung sỹ, được đề bạt tổ phó tổ phòng mổ, và được cấp bằng tốt nghiệp y tá, cũng là năm 1968 tiếp tục được đơn vị và anh em bình chọn là chiến sỹ thi đua cấp trung đoàn lần 2.
Năm 1969 và những năm tiếp theo, chiến tranh càng ác liệt hơn, rừng bị chất độc hoá học chết trụi, dễ bị máy bay địch phát hiện. Biệt kích Mỹ, Úc thường xuyên lùng sục, ta và địch xen kẽ lẫn nhau. Hầm núp thì che đậy, hành quân thì phải nguỵ trang cả trên người và cả dấu vết chân, phủ kín lá các đường mòn vào căn cứ. Mọi người trong sinh hoạt cá nhân đều phải im lặng. Trung đội phẫu như một đơn vị chiến đấu, có tuần phải chiến đấu 2 - 3 trận với biệt kích Mỹ, Úc, thương vong xảy ra hàng ngày. Bom, pháo, B52 oanh kích liên tục. Đơn vị thường ăn nghỉ, canh gác ngay miệng hầm, có khi phải xuống hầm ăn cơm. Thương binh thì quá nhiều, không chuyển về tuyến sau được phải để lại điều trị tại đội phẫu (tuyến trước). Toàn bộ thương, bệnh binh nặng hoặc nhẹ đều đưa xuống hầm để nuôi dưỡng. Có nhiều trường hợp thương binh bị thương lần hai, do bom, pháo bỏ trúng hầm. Chiến trường gian khổ, ác liệt hơn bao giờ hết. Đóng quân tại căn cứ cũng phải chiến đấu chống càn. Cắt rừng đi tìm thức ăn cũng phải đánh nhau. Lúc này ta thiếu gạo, thuốc men. Một bữa ăn đủ thứ độn các loại đậu, hết đậu rồi tới trái bí đỏ, trái chuối, cho đến không tìm được gạo thì phải ăn củ chuối, ăn măng, ăn rau tàu bay, cải trời, rong đá để sống qua ngày. Kéo dài cả 2 - 3 tháng không thấy hạt gạo, tôi và tất cả anh em đơn vị chia nhau từng tổ cắt rừng tìm kiếm bất cứ cái gì ăn được, giành nhau với thú rừng đồ hộp của lính Mỹ, Úc, Thái Lan bỏ sót lại để đem về nuôi dưỡng thương bệnh binh. Có lúc khó khăn nhất không tìm được thức ăn, phải chia nhau bữa ăn từng quả chuối, chén nước canh rau, ăn chuối thay cơm, ăn rau rừng qua bữa. Thuốc điều trị thương bệnh binh vô cùng tiết kiệm, giành từng lọ kháng sinh, từng chai dịch chuyền để cứu chữa thương binh nặng, vết thương lớn bị nhiễm trùng. Thiếu ăn rồi lại thiếu muối để pha rửa vết thương. Trước sự ác liệt và khó khăn tôi vẫn vững vàng, dũng cảm, không chao đảo, càng gần gũi thương bệnh binh để cứu chữa. Nhiều thương binh bị nhiễm trùng nằm dưới hầm, cả vết thương đều có giòi , vô cùng hôi thối. Tôi giành dụm từng bịch muối bọt lượm của Mỹ, Úc để pha chế rửa từng vết thương nhiễm trùng, kiếm bắt gấp từng con giòi để làm giảm sự đau đớn cho thương binh. Tôi bò lên xuống hết hầm này rồi lại hầm khác. Các đồng chí thương binh nặng gãy xương đùi phải cố định dưới hầm hàng giờ, muốn lăn trở người để đỡ mệt mỏi và đỡ bị lở loét, chỉ muốn tôi gần gũi chăm sóc. Tình cảnh đó càng làm trỗi dậy trong tôi tình thương và trách nhiệm, giúp tôi quên đi sự mệt mỏi trong công việc.
Nhiều trường hợp bị thương nặng mất máu nhiều, dịch truyền thì thiếu để cấp cứu, tôi cùng với các đồng chí tổ gây mê hồi sức nghiên cứu chế tạo một bộ dụng cụ để cấp cứu, áp dụng chuyền máu ngược dòng cho những thương binh nặng do mất máu nhiều khi cấp cứu hoặc đang giải phẫu bị chết lâm sàng, phối hợp hai tổ phòng mổ và tổ gây mê hồi sức, đem lại thành công tốt đẹp, kết quả nhiều ca thương binh cấp cứu được cứu sống ở ngay tuyến đầu.
Từ chỗ các đồng chí thương binh nặng chỉ muốn tôi gần gũi để chăm sóc, một lần đêm khuya mưa bão, lượng mưa quá lớn, lúc đó khoảng 1 - 2 giờ khuya, vì các đồng chí trực và phục vụ thương bệnh binh quá mệt mỏi ngủ quên hết, tôi thức giấc và liền nghĩ đến các hầm có thương binh nặng. Tôi lên hầm choàng tấm áo mưa với cây đèn pin đi kiểm tra ngay các hầm. Tôi nghe thấy tiếng động ở hầm kế bên, liền chạy tới ngay. Tôi rọi đèn pin thấy một cái đầu người ở ngay cửa hầm lú lên, liền xốc hai vai kéo lên để ngồi trên nóc hầm. Rồi tôi thấy hầm ngập nước gần tới nóc, biết dưới hầm còn hai thương binh nặng không thể bò lên hầm được, tôi liền nhảy vào cửa hầm lặn và mò đưa hai thương binh lên hầm. Hầm hình chữ T khá sâu, khoảng 1,2m, do mưa lớn tràn vào vỡ bờ cửa hầm, nước chảy vào rất nhanh. Còn khoảng 0,3m nữa là tới nắp hầm, tôi phải lặn 2 - 3 lần, ráng sức tìm cách đưa hai thương binh, mỗi thương binh một cửa hầm chữ T, đưa đầu lên trước để thương binh nằm tựa vào cửa hầm lấy hơi thở, rồi tôi kêu các đồng chí tổ cấp cứu lại khiêng thương binh lên sang hầm khác để cấp cứu ngay. Riêng tôi thì quá mệt, kiệt sức do bị uống nước nhiều cũng được cấp cứu cùng với hai đồng chí thương binh nặng. Nếu tôi không lo nghĩ đến các đồng chí thương binh nặng thì tin chắc trong đêm mưa bão này hai đồng chí thương binh nặng sẽ bị tử vong tại hầm.
Cuối năm 1969, tôi vinh dự được các đồng chí trong đơn vị bình chọn chiến sỹ thi đua cấp trung đoàn lần thứ 3 và được trung đoàn bình chọn chiến sỹ thi đua cấp quân khu, được báo cáo điển hình trước hội nghị thi đua quân khu, được đề nghị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, cũng là năm Đại hội chi bộ (Đại đội C23), tôi được tín nhiệm bầu vào chi ủy chi bộ, được đề nghị phong quân hàm thượng sỹ và giao nhiệm vụ tổ trưởng phòng mổ. Cuối năm kiểm điểm phân loại đảng viên được đồng chí chính trị viên phát biểu nhận xét: Đồng chí Tròn lúc nào tư tưởng cũng vững vàng, trong lúc khó khăn ác liệt nhất không ngại hy sinh, là một đảng viên luôn gương mẫu đi đầu, chiến đấu dũng cảm kiên cường để bảo vệ, cứu chữa thương binh, luôn vì tập thể, vì đồng chí, đồng đội, được anh em trong và ngoài đơn vị thương mến.
Năm 1969 - 1970, sau Tết Mậu Thân, địch tuy bị thất bại nặng nề trong các đợt ta tấn công, nhưng chiến trường Đông Nam bộ Mỹ tiếp tục tập trung tối đa không quân chiến lược, B52 đánh phá nát rừng miền Đông. Biệt kích Mỹ và Úc tiếp tục lùng sục khắp nơi, các cửa khẩu lại bị phong toả. Tình hình lương thực rất khó khăn. Trên chiến trường Bà Rịa - Long Khánh - Biên Hoà, không nơi nào không có biệt kích, B52 ném bom, pháo bắn cầm chừng sáng đêm, máy bay phản lực, trực thăng thì bắn dội bom suốt cả ngày. Nhiều trường hợp căn cứ bị bom bỏ trúng, bị sụp hầm gây thương vong nặng. Sau đợt bỏ bom, tôi thường cầm 1 cái cuốc Mỹ xông lên khỏi hầm chạy đi kiểm tra tất cả căn cứ xem những hầm bị trúng bom bị sập để kịp thời đào moi cấp cứu các đồng chí thương binh. Có những lần bị một lúc 2- 3 hầm liền, để kịp thời cứu chữa, tôi kêu nhiều đồng chí phụ. Có trường hợp bị tử vong do bom có sức công phá quá lớn, bị phá nát văng hết thân người, tôi phải đi tìm lượm từng đoạn chân tay, từng miếng thịt để gắn lại bỏ vào tấm ni lông mà chôn cất. Được cấp cứu kịp thời, nhiều đồng chí bị thương do hầm bị sập bị ngộp thở đã thoát khỏi tử vong. Như trường hợp đồng chí Hùng (Hùng “nhướng”- đồng chí này khi ra trận chiến đấu, đồng chí chỉ huy ra lệnh, anh em đánh chậm, xung phong chậm đồng chí hay chớm nhướng mắt, anh em đơn vị đặt tên Hùng “nhướng”), có lần bị thương phải về nằm điều trị tại đội phẫu, bị máy bay bỏ bom sụp hầm đè hết thân người, chỉ lú nửa cái đầu, tôi liền cầm cái cuốc tới moi, kịp thời cứu sống đồng chí Hùng. Hiện nay đồng chí đang làm Chủ tịch Hội Cựu Chiến Binh xã Bình Ba, cũng là người bị thương lần 2 được cứu sống.
Lúc này lượng thương binh điều trị tại đội phẫu khá đông, quyết tâm của trung đoàn phải chia nhiều cánh, nhiều hướng để cắt rừng đưa thương binh về tuyến sau. Một lần tôi được phân công hộ tống đưa thương bệnh binh về tuyến sau, cắt rừng luồn lách sáng đêm mới qua được quốc lộ I để đưa thương binh về sông Đồng Nai, rồi lại dẫn các đồng chí lành thương hết bệnh trở lại chiến trường để chiến đấu. Để tìm cách vượt đường quốc lộ I trở lại chiến trường tam giác thép, trong khi biệt kích Mỹ - Úc gài mìn trái tương đối dày đặc, tôi tuy là lính y tá nhưng được đồng chí Bảy Ước mời đến bàn kế hoạch để luồn lách vượt đường. Tôi được nghe đồng chí Bảy Ước sinh hoạt cho cả trung đội trinh sát của đơn vị, dù được trang bị vũ khí máy bộ đàm đầy đủ, giao trung đội trinh sát dẫn đi trước, vậy mà luẩn quẩn tại chỗ giữa đêm khuya đến gần sáng rồi mà vẫn chưa vượt đường được. Tôi xông lên, tôi nói đồng chí Bảy Ước cho trung đội trinh sát theo tôi. Tôi mang 1 khẩu AK và cầm trong tay một cái que bằng cây, luồn lách dẫn cả đoàn vượt qua nhiều ổ biệt kích Mỹ, nguỵ. Tôi gỡ hai lần lựu đạn gài và vượt vào bìa rừng là kịp vừa sáng. Cả đoàn đều mừng trước sự an toàn và phấn khởi khen ngợi tôi. Riêng đồng chí Bảy Ước khâm phục sự dũng cảm táo bạo của tôi, một đồng chí y tá của trung đoàn 4 chỉ mang 1 khẩu AK và 1 cái que cây mà hơn cả đội trinh sát. Về tới đơn vị, nghe các đồng chí nói tôi mới biết đồng chí Bảy Ước là Trưởng Đoàn 10 đặc công rừng Sác. Hiện nay đồng chí nghỉ hưu tại tỉnh Đồng Nai.
Được trung đoàn đánh giá đại đội phẫu có lực lượng y tá dũng cảm, giỏi về địa hình và làm được trinh sát cắt đường, đi tìm kiếm được nhiều cửa khẩu để lấy gạo, mua thuốc men để về nuôi dưỡng thương bệnh binh nên cứ mỗi lần ra cửa khẩu lấy gạo thì các đơn vị của trung đoàn đến đội phẫu để dẫn đi. Tôi hai lần vừa lấy gạo ra khỏi cửa khẩu bị lọt vào ổ biệt kích. Lần thứ nhất hai bên đều nổ súng, địch bỏ chạy dùng hoả lực cối pháo bắn trả, tôi bị thương, một mảnh cối đâm vào xương trụ cẳng tay trái. Tôi kịp thời dùng băng cá nhân băng lại, rồi quyết tâm cố gắng mang được bao gạo 30 kg về tới đơn vị (đó là cửa khẩu Bình Sơn). Lần thứ hai, cũng vừa ra khỏi cửa khẩu ấp Hưng Nghĩa, tại Vườn Chuối, bị lọt vào ổ mìn Clây-mo và xe tăng Mỹ bắn ác liệt, các đồng chí bỏ chạy bị thương vong quá nhiều, tôi nằm tại chỗ được sống sót. Khi hết mìn nổ và xe tăng ngưng bắn, tôi bò đi gặp đồng chí Trụ y tá bị thương gãy xương cẳng chân nằm tại lỗ mìn vừa nổ. Xe tăng tiếp tục bắn, tôi nằm lại lỗ mìn chung với đồng chí Trụ và liền một lúc có hai đồng chí y tá Bình và Sáu Lực bò tới nữa. Tôi nói với các anh Bình, Sáu Lực là đồng chí Trụ bị thương, còn các đồng chí khi mìn nổ và xe tăng bắn bỏ chạy chắc hy sinh hết rồi, nhờ mình nằm lại tại chỗ mới còn sống. Ba anh em mình phải cõng anh Trụ lùi trở lại, để tìm các đồng chí cùng đoàn tải gạo. Sau đó thì gặp không còn bao nhiêu đồng chí, trong đó có nhiều đồng chí bị thương. Anh em sinh hoạt với nhau, quyết định mỗi đơn vị phải chịu trách nhiệm cõng thương binh của đơn vị mình. Xe tăng, lính bộ binh Mỹ bao vây không cho ta vào rừng, theo dấu vết máu chúng biết ta bị thương nhiều, còn ẩn núp trong vườn chuối. Từ 2 giờ sáng đến một ngày sau, bị bao vây chặt, dưới đất thì xe tăng lính Mỹ, trên đầu thì máy bay trực thăng, chúng tôi cứ bò nép theo gốc chuối. Có đơn vị chịu không được phải bỏ thương binh tại gốc chuối rồi lính Mỹ bắt đưa ngay lên trên máy bay phát loa tuyên truyền biểu ta ra đầu hàng, bị bao vây xiết chặt rồi. Ngồi trong gốc chuối với ba anh em và một thương binh, chỉ có 1 khẩu AK. Đồng chí Sáu Lực và đồng chí Bình nói nhỏ với tôi, thôi mình phải bỏ đồng chí Trụ thương binh lại gốc chuối và lấy lá chuối khô đậy lại để mình tìm lối thoát. Hai đồng chí nói vừa hết lời, tôi không đồng ý (hai đồng chí lớn tuổi hơn tôi). Tôi phân công hai đồng chí giữ khẩu AK, tôi cõng đồng chí Trụ thương binh đi trước, còn hai đồng chí theo sát tôi. Tôi nghĩ, chỉ liều mạng cắt đi thẳng về hướng đồn bót sông Thao mới may ra thoát được. Rồi các đơn vị núp ở trong bụi chuối kế bên cũng bám theo tôi, vừa đi mà chỉ mong sao cho mau tối. Càng đi tôi quan sát thấy lính Mỹ và xe tăng càng xa, và trời vừa sụp tối cũng vừa đến sát gần đồn bót sông Thao nằm trên quốc lộ I. Tôi nói với anh em tất cả im lặng để tổ chức vượt đường quốc lộ I. Nghe lính trong đồn phát loa biểu ta ra đầu hàng và bắn pháo sáng để bảo vệ đồn, tôi chuyển giao đồng chí Trụ thương binh cho đồng chí Sáu Lực cõng, tôi mang khẩu AK và kêu hai đồng chí đơn vị bạn cùng đi trinh sát. Lúc này lính Mỹ và xe tăng ra kích dọc theo tuyến đường quốc lộ I, biết ta sẽ vượt đường để đưa thương binh về tuyến sau. Tôi và hai đồng chí bò sát cập hàng rào đồn sông Thao, tìm chỗ sơ hở, tôi cho hai đồng chí bò qua trước để quan sát và tôi quay lại, dẫn đoàn và cõng thương binh vượt đường, đưa thương binh về tuyến sau. Vậy là tôi xử lý tình huống bất ngờ được an toàn. Đồng chí Trụ hiện giờ về hưu ở xã Hưng Nghĩa, tỉnh Đồng Nai. Ngày sau đơn vị cho một tổ trinh sát đi tìm tôi và đồng chí Lực dẫn về đơn vị.
Khoảng tháng 7-1970, tôi được trung đoàn cho đi học khoá y sỹ do đoàn hậu cần R 814 mở. Đến nhà trường, tôi được Ban giám hiệu phân công phụ trách trung đội bậc phó (B2) của lớp học và được đề nghị đảng uỷ cấp trên chuẩn y là chi uỷ viên cấp uỷ nhà trường, vì tôi dang là cấp uỷ đại đội C23 trước khi đi học. Trong quá trình học tập, tôi luôn được Ban Giám hiệu, học viên thương mến và tín nhiệm. Ngoài việc lao động, học tập, tôi còn được nhà trường giao làm tổ trưởng tổ phẫu để sẵn sàng phục vụ cho đơn vị hậu cần 814. Với kinh nghiệm ở chiến trường, tôi đã xử lý cấp cứu thương binh, giải phẫu nhiều ca trọng thương được an toàn. Các bác sỹ nhà trường và các bác sỹ thầy dạy khen ngợi tôi và nói tôi có trình độ chuyên môn ngoại khoa giỏi.
Qua hơn 2 năm học, từ tháng 7-1970 đến tháng 1-1972, tôi luôn chấp hành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Ban giám hiệu nhà trường phân công. Sau hai năm học tập đầy gian nan, vất vả, hầu như quanh năm suốt tháng ăn bột mỳ để học, tôi đã hoàn thành chương trình học tập, được nhà trường đề nghị tặng bằng khen và được cấp giấy chứng nhận bằng tốt nghiệp khoá y sỹ loại giỏi. Cuối khoá, tôi sợ cấp trên giữ lại nhà trường và phân ở lại các cơ quan phía sau, tôi xin về đơn vị cũ C23 (Đội phẫu E4).
Từ năm 1972 cho đến năm 1975 ngày giải phóng miền Nam, tôi tiếp tục trở lại ở chiến trường ác liệt đầy bom đạn, là chiến trường nơi Mỹ leo thang và nơi Mỹ xuống thang rút về nước ( Bà Rịa - Long Khánh ).
Mẹ tôi là đảng viên, từ miền Tây vẫn liên lạc được với tôi và lên thăm tôi ba lần: năm 1967 sau khi tôi điều trị lành vết thương, năm 1969 và năm 1973. Mỗi lần mẹ lên thăm tôi là mỗi lần mẹ động viên nhắc nhở cố gắng giữ vững truyền thống cách mạng của gia đình. Tôi nghĩ và nhớ mãi lúc còn thơ, mẹ con bị địch bắt giam giữ đánh đập làm cho tôi luôn ghi khắc mối căm thù, biến thành hành động trong suốt cuộc đời chinh chiến.
Từ năm 1972 - 1975, giai đoạn cuối cuộc chiến tranh đánh Mỹ tôi được sự phân công trung đội phẫu II, lúc này tôi không còn là dụng cụ viên nữa mà làm nhiệm vụ giải phẫu thương binh loại trung thương và kinh thương. Qua các chiến dịch, các trận đánh lớn, lượng thương binh khá đông làm cho trách nhiệm và nhiệm vụ của tiểu đội phòng mổ rất nặng nề, có lúc phải xử lý cấp cứu nhanh hàng trăm ca thương binh cùng một lúc để đưa về tuyến sau. Số lượng thương binh trung thương và kinh thương rất đông, tôi đứng mổ suốt cả ngày, có khi suốt cả đêm. Tất cả những y cụ và dụng cụ của tiểu đội phòng mổ phải đảm bảo phục vụ kịp thời cho các kíp mổ tiểu phẫu, trung phẫu và đại phẫu. Có lúc tôi phải qua phụ mổ các ca đại phẫu, cùng với các đồng chí bác sỹ phẫu thuật chính, được các đồng chí phẫu thuật chính tín nhiệm về các thao tác phẫu thuật phụ nhanh và kịp thời, như cầm máu, cột chỉ khâu. Có lần tôi xử lý kịp thời cầm máu bằng nguyên bàn tay tôi. Khi phẫu thuật chính rạch mổ ở bụng thương binh ra thì tất cả máu trong ổ bụng chảy mạnh, tràn ra ngoài. Đồng chí gây mê hồi sức báo cho dừng phẫu thuật, tôi nghi vết thương ở ổ bụng bị đứt động mạch nào đó, liền đưa cả bàn tay tôi vào ổ bụng thương binh để tìm chỗ ấm là nơi bị đứt động mạch. Tôi nắm chặt vào lòng bàn tay thì từ từ máu ngưng chảy. Khoảng 15 phút sau đồng chí gây mê hồi sức báo cáo với kíp mổ là thương binh huyết áp đang lên dần, rồi bác sỹ ca phẫu thuật xử lý hút máu hết trong ổ bụng để xử lý cầm máu tại vị trí chỗ bàn tay tôi . Lúc đó mới phát hiện ra là vết thương bị đứt động mạch mạc treo, được tiếp tục phẫu thuật bình thường trở lại, thương binh ổn định và qua cơn hiểm nghèo. Tôi được đồng chí gây mê khâm phục, rút kinh nghiệm để cấp cứu nhanh ngay trên bàn mổ, và được các đồng chí bác sỹ phẫu thuật chính cho là tôi chẩn doán xử lý cấp cứu giỏi, lâm sàng bất ngờ ngay trên bàn mổ mà cả kíp mổ không chẩn đoán được.
Được nhiều anh em trong đơn vị trung đoàn cảm mến và tín nhiệm, tin tưởng, tôi càng an tâm trong chiến đấu và phục vụ thương bệnh binh.
Tôi còn nhớ mãi trường hợp đồng chí Trung đoàn phó Trung đoàn 4 tên là Ba Chánh bị thương gãy xương cẳng chân do hành quân lọt vào ổ mìn của địch, vết thương bị dập nát xương chày khá nặng nhưng được các y, bác sĩ giải phẫu; cố gắng xử lý phải bảo toàn không cưa chân. Và kết quả xử lý đã thành công. Sau khi lành vết thương, đồng chí Ba Chánh tiếp tục trở lại đơn vị chỉ huy chiến đấu. Qua thời gian hành quân chiến đấu vất vả, vết thương bị tái phát lại nhiều lần mà đồng chí Ba Chánh vẫn cương quyết không về tuyến sau để điều trị, chỉ vào đội phẫu quân y tuyến trước điều trị để khi khỏi rồi còn phải chỉ huy chiến đấu nữa. Đồng chí chỉ huy chiến đấu rất dũng cảm và say mê trong chiến đấu, nhưng hơi khó tính. Khi đến đội phẫu điều trị, chỉ muốn tôi chăm sóc, điều trị đồng chí mới vừa lòng. Tôi trực tiếp chăm sóc, điều trị theo phác đồ của bác sĩ với 3 lần vết thương tái phát, tôi phục vụ toàn diện từ khi bị nặng cho đến lành lại vết thương. Thời gian điều trị một lần gần cả tháng, rồi đồng chí lại về đơn vị chỉ huy chiến đấu; thời gian sau lại tái phát nữa. Tôi chăm sóc cũng vô cùng vất vả, nhưng sự đau đớn của vết thương hành tái phát của đồng chí hơn bao nhiêu lần. Đồng chí rất cố gắng vượt qua những cơn đau đớn kéo dài, viêm nhiễm sốt cao nằm mê man dưới hầm mổ, trung tiểu tiện không biết gì, có lúc thì bí trung tiểu tiện, phải thụt tháo và phải thông tiểu, rồi muốn lăn trở mình, khi tỉnh thì muốn lên hầm. Đồng chí Ba Chánh người "đô con" mà chỉ một mình tôi phục vụ, có khi cả ngày và cả đêm phải gần gũi đồng chí để cõng lên hầm rồi cõng xuống hầm 2- 3 lần. Tinh thần chăm sóc, phục vụ hết mình vì đồng chí, đồng đội của tôi làm cho đồng chí Ba Chánh lúc nào cũng xem tôi như một người em trai ruột trong gia đình ( đồng chí thường xuyên tâm sự với tôi khi hành quân ra trận gặp nhau,động viên nhau những lời tình cảm thật thương mến còn hơn anh em ruột trong gia đình). Rồi tiếp tục vết thương của đồng chí Ba Chánh lại tái phát lần thứ tư, lần này thì quá nặng. Ban chỉ huy trung đoàn phải quyết định đưa đồng chí về tuyến trạm xá trung đoàn để điều trị. Tất cả các y, bác sĩ của trung đoàn đến hội chẩn và tập trung điều trị với tinh thần "còn nước còn tát". Thời gian điều trị kéo dài, không vượt qua được cơn hiểm nghèo, đồng chí Ba Chánh đã hy sinh. Cả trung đoàn vô cùng thương tiếc đồng chí Ba Chánh.
Năm 1973, tôi được phong hàm chuẩn uý, giao chức vụ đội phó đội phẫu II (B2, C23), trở thành một phẫu thuật viên có trình độ chuyên môn được nâng cao, cả lý thuyết và kinh nghiệm trong thực tiễn. Tôi được trung đoàn phân công phụ trách tổ chuyên môn tăng cường kỹ thuật cho quân y tiểu đoàn bộ binh D445 tỉnh Bà Rịa - Long Khánh. Tôi rất vinh dự được hợp tác cùng với các đồng chí quân y địa phương, đã cấp cứu, xử lý kịp thời có kết quả nhiều ca thương bệnh binh ở tuyến đầu. Có một trường hợp cấp cứu giải phẫu một ca trọng thương ngay trên bàn mổ, làm cho tôi ghi nhớ và thương tiếc mãi. Đồng chí thương binh tên là Thục, là tiểu đoàn phó D445. Khi đồng chí bị thương ngay trận địa, đã có thông tin báo về cho đội phẫu để chuẩn bị sẵn sàng cấp cứu và giải phẫu ngay vì đồng chí bị thương quá nặng, vết thương bị thủng bụng lòi ruột ra ngoài, và một vết gãy xương cẳng chân. Khi đến đội phẫu, thương binh này trong tình trạng bị choáng. Tôi cùng với tổ gây mê xử lý cấp cứu ngay, 30 phút sau thương binh đã ổn định, cho giải phẫu. Có điều bất ngờ là tôi không được tham gia giải phẫu, chỉ đứng vòng ngoài với tổ gây mê hồi sức. Tôi không yên tâm với trách nhiệm của mình vì mình được trung đoàn tăng cường chuyên môn quân y cho địa phương. Tôi cứ đi ra đi vào phòng mổ và cố nhìn vào ổ bụng thương binh chờ xem các đồng chí kíp mổ xử lý thế nào. Thời gian kéo dài 1 giờ, làm cho thương binh mất nhiều máu, tôi biết các đồng chí kíp mổ không thể làm được vì tôi thấy vừa máu vừa phân già lẫn lộn đầy ổ bụng. Các đồng chí chưa đủ kinh nghiệm để xử lý, tôi liền hỏi đồng chí gây mê hồi sức tình trạng thương binh như thế nào. Đồng chí nhìn tôi và lắc đầu, tôi mạnh dạn đề nghị kíp mổ ngưng ngay phẫu thuật. Tôi vừa tập trung cùng với đồng chí gây mê hồi sức ( đồng chí Trí hiện giờ ở Thị xã Bà Rịa) để hồi sức thương binh, vừa hội chẩn để xử lý. Sau đó, các đồng chí kíp mổ đề nghị tôi vào mổ chính để các đồng chí phụ. Tôi nói, các đồng chí đề nghị lúc này là quá muộn rồi, tôi vì trách nhiệm, với tinh thần động viên kíp mổ tập trung để cứu chữa thương binh, “còn nước còn tát”. Giải phẫu khoảng 40 phút, vết thương bị đứt ruột già và bị tổn thương mạc treo. Tôi xử lý rửa sạch ổ bụng, đắp nước muối ấm ổ bụng rồi tiến hành làm hậu nhân tạo ngoài thành bụng, cầm máu và khâu lại các lỗ thủng mạc treo, khâu đốn lại thành bụng an toàn. Sau hậu phẫu kéo dài được 6 giờ thì thương binh bị tử vong (hy sinh). Vô cùng thương tiếc đồng chí Thục.
Sau ca mổ thương binh bị tử vong, đồng chí chủ nhiệm quân y tỉnh Bà Rịa - Long Khánh, bác sỹ Sự (hiện nay nghỉ hưu ở huỵên Long Điền) xuống quân y tiểu đoàn, chỉ đạo cho kiểm điểm. Tôi được mời dự và đồng chí Sự chủ nhiệm quân y phê bình nhiều đối với đồng chí Vinh, quân y trưởng đội phẫu tiểu đoàn, cũng là đồng chí phẫu thuật chính hiệp đầu ca tử vong này. Đồng chí Sự có nói, sao mình được quân y trung đoàn tăng cường mà không để các đồng chí giải phẫu chính. Sau đó đồng chí Vinh nhận khuyết điểm, lấy đó làm bài học kinh nghiệm. Về sau đồng chí Vinh rất tôn trọng và học hỏi nhiều về tôi.
Tôi rất yêu nghề. Mỗi lần đội phẫu về hậu cứ đóng quân gần trạm xá trung đoàn, tôi chịu khó để tìm hiểu học tập về điều trị nội khoa, đặc biệt là tôi rất quan tâm học điều trị kết quả các thể sốt rét ác tính, vừa xem hồ sơ bệnh án vừa hỏi các đồng chí bác sỹ phụ trách trạm xá, được các đồng chí nhiệt tình hướng dẫn và khi có ca điều trị sốt rét ác tính, tôi được các đồng chí mời qua xem lâm sàng và diễn biến điều trị thực tế của bệnh nhân. Tôi rất ham học và chịu khó gần gũi với bệnh nhân, tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tiễn, nhờ vậy tôi ngày càng thành công trong công việc, đã điều trị khỏi nhiều ca sốt rét ác tính ở tuyến đầu.
Cuối năm 1973, đơn vị cho tôi đi học để đào tạo chuyên khoa ngoại 6 tháng trường H20, đoàn 814 hậu cần R mở. Chuyên môn được nâng cao hơn, cuối khoá tôi được trở về đơn vị cũ công tác.
Năm 1974 - 1975, trở lại đơn vị C23, E4 (Đội phẫu II) được đơn vị giao nhiệm vụ như cũ là đội phó của đội phẫu II, vẫn bám trụ chiến trường tam giác thép. Lúc này Mỹ đã rút rồi, chiến trường có phần nào giảm khó khăn và ác liệt, nhưng tổ chức nhiều chiến dịch đánh lớn hơn, phải đánh cho nguỵ nhào. Đội phẫu C23 cũng được tập trung, có lúc phải triển khai 3 đội cùng một lúc để phục vụ thương binh kịp thời các chiến dịch lớn.
Tôi trực tiếp phục vụ nhiều chiến dịch và những trận đánh lớn, được nhiều bác sỹ tín nhiệm về tinh thần phục vụ thương binh, có nghiệp vụ chuyên môn giỏi. Tôi rất chịu khó, khi thương binh vào tới đội phẫu thì bất kỳ lúc nào cũng có mặt để phục vụ cứu chữa kịp thời cho thương binh. Đại đội C23 có3 trung đội, mỗi trung đội là 1 đội phẫu (Đội phẫu I, II, II). Từ sự tín nhiệm, có lúc tôi được điều động liên tục, có khi từ đội II qua đội I, rồi từ đội I chuyển qua đội III. Đó cũng là do nhu cầu của trung đoàn để phục vụ thương binh những trận đánh lớn, dự kiến có số lượng thương binh đông, được trung đoàn nhiều lần biểu dương và khen thưởng, đội phẫu luôn hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc.
LẬP GIA ĐÌNH
Đến cuối năm 1974 đầu năm 1975, tôi được làm quen với một gia đình có truyền thống cách mạng giống như gia đình tôi, hiện đang có hai người con trai đang tham gia cách mạng, một người là bộ đội tiểu đoàn bộ binh D14 Tây Ninh và một người tham gia du kích xã cũng ở tỉnh Tây Ninh. Gia đình chỉ còn hai chị em gái, cha thì bệnh (chết), bị địch để ý gây khó khăn phải bỏ quê hương đến ở vùng giải phóng năm 1972. Nơi đó là đồn điền cao su Hoa Lạc, một đồn điền cao su tư nhân, ông chủ đồn điền tên là Hoa Lạc. Bộ đội hay ra vào đồn điền thường gọi tên Hoa Lạc trong và Hoa Lạc ngoài, chung một đồn điền. Hai chị em xin được vào làm công nhân cao su xã Ngãi Giao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Long Khánh. Đơn vị tôi thường hành quân đi chiến đấu qua lại hướng đông và tây lộ 2, cũng là nơi cửa khẩu cung cấp lương thực, gạo, thuốc men, thức ăn, rau quả, có tên gọi cửa khẩu dốc 30 nằm trên đường số 2 (nay là chợ Kim Long). Trong đơn vị có đồng chí cùng quen với gia đình (Tây Ninh), được kết nghĩa quê hương, cũng cùng tên với tôi (Tư Tròn, lớn hơn tôi 5 tuổi) chức vụ y sỹ, đại đội phó đội phẫu. Đồng chí Tư Tròn rất mến tôi, từ chỗ mến đó đồng chí mới giới thiệu cho tôi đứa em gái quê hương tên là Út Nhìn và giới thiệu tôi cho gia đình biết. Mỗi lần đi công tác qua lại, đồng chí Tư Tròn và tôi tranh thủ giây lát ghé thăm gia đình. Tôi được quen biết gia đình từ đầu năm 1973, thời gian cũng khá dài, rồi đồng chí Tư Tròn nói với tôi, gia đình đồng ý rồi. Đa số các đồng chí trong đơn vị cũng đồng ý và đôn đốc tôi, có ý tốt cho tôi. Lúc đó tôi mới 25 - 26 tuổi, thấy mình còn nhỏ quá. Chiến tranh chưa kết thúc. Tôi muốn khi kết thúc chiến tranh trở về quê hương mới lấy vợ. Cũng vừa mới ra trường là y sỹ, da trắng trẻo, tướng tá coi cũng được. Anh em đơn vị khen tôi “đẹp trai”. Lúc bấy giờ vào tuổi đó dù đã là y sỹ cũng là trẻ. Thật tình, tôi là người ít nói, còn nhút nhát lắm khi gặp người khác giới. Ở cơ quan trung đoàn, cũng có vài cô gái khá xinh đẹp nhiều lần muốn gặp tôi, nhưng tôi cương quyết không gặp. Thật sự mình cũng chưa biết “o mèo” và không bao giờ nghĩ đến xây dựng gia đình trong khi còn chiến tranh. Rồi các cô gái xinh đẹp kia cũng tìm được người chồng trong đơn vị trung đoàn (E4).
Út Nhìn lúc này tuổi còn thơ, dưới 15 - 16 tuổi, nhưng lao động khá giỏi, cũng trở thành người công nhân cạo mủ cao su. Việc gia đình đồng ý gả Ut Nhìn cho tôi, tôi chỉ biết thông tin từ anh Tư Tròn mà thôi. Tôi cũng chưa lần nào nói chuyện với Út Nhìn. Rồi sau đó, tôi mải miết đi phục vụ chiến đấu ở nơi chiến trường khác, ít được gặp lại gia đình.
Lúc này Mỹ rút quân về nước rồi, ngụy đang hùng hổ hô hào bình định bung ra hòng đánh chiếm lại các vùng giải phóng của ta. Năm 1974, Trung đoàn quay trở lại để bảo vệ vùng giải phóng và cửa khẩu dốc 30 lộ 2 từ Cẩm Mỹ cho đến đường cùng. Tôi có điều kiện gặp lại gia đình Út Nhìn. Lúc này gia đình không còn ở Hoa Lạc nữa. Xã tổ chức đưa dân vào cất nhà ở sát bìa rừng, gần căn cứ bộ đội ở đồn điền Sampon của người Pháp ( mả con đầm - là đứa con gái của chủ đồn điền người Pháp bị bệnh sốt rét chết ướp xác chôn tại đây). Tôi và Út Nhìn có điều kiện gần gũi, cũng như gần gũi gia đình. Anh Tư Tròn thường xuyên ra vào gặp Út Nhìn và đôn đốc gia đình. Anh nói, lúc này điều kiện thuận lợi, báo đơn vị để tổ chức “tuyên bố”. Rồi anh Tư Tròn báo luôn cho đơn vị. Sau lời mở đầu ấy, tôi tìm hiểu thấy hoàn cảnh của hai bên thật giống nhau, đều là gia đình giàu truyền thống cách mạng. Cấp uỷ đơn vị cũng động viên tôi và thay thế gia đình đứng ra tổ chức “tuyên bố” cho tôi. Vậy là mọi việc vun đắp cho tình yêu chúng tôi từ khi mở đầu và thời gian tìm hiểu, cho đến ngày tổ chức “tuyên bố” đều có công vun đắp của anh Tư Tròn, là người kết nghĩa quê hương nơi gia đình Út Nhìn (tỉnh Tây Ninh). Đám “tuyên bố” được tổ chức ngày 11 tháng 4 năm 1974 tại Sampon, gần căn cứ trung đoàn.
Sau ngày vui rồi lại buồn. Gia đình nhận tin báo là anh ba của Út Nhìn đã hy sinh, gia đình phải về quê. Mẹ và vợ tôi đi đến tận đơn vị D14 Tây Ninh để hỏi và biết đúng sự thật anh ba tham gia chiến đấu và đã anh dũng hy sinh. Gia đình buồn vô cùng. Tiếp mấy ngày sau, vợ tôi lại bị địch bắt tại Trảng Bàng, Tây Ninh do địch theo dõi biết vợ tôi hay ra vào thăm bộ đội vùng giải phóng.
Tôi tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, phục vụ cho nhiều trận đánh lớn "đánh cho nguỵ nhào". Ngày 30 - 4 -1975 toàn thắng, trung đoàn 4 đã đánh vào chỉ huy quân đoàn 3 và tiến thẳng vào sân bay quân sự Biên Hoà.
Gần 13 năm theo cách mạng, tôi được hưởng niềm vui mừng tột đỉnh, tuy nhiên không khỏi có những nỗi buồn. Để có ngày vui hôm nay, bao nhiêu đồng chí, bạn bè thân thương của tôi đã ngã xuống. Tôi được phép về đến quê hương để báo tin cho gia đình biết tôi còn sống. Sau 5 ngày nghỉ phép, được họp mặt gia đình, rồi tôi trở về đơn vị. Mấy ngày sau, vợ tôi đến thăm tôi ở tại đơn vị đóng quân (sân bay quân sự Biên Hoà). Vậy là sau thời gian dài hoà bình rồi vợ chồng tôi mới thật sự “tự do hạnh phúc” kể từ ngày tổ chức “tuyên bố” ở thời điểm chiến tranh.
Sau giải phóng, nhiều đồng chí anh em được xuất ngũ về quê hương và chuyển công tác về tham gia xây dựng chính quyền địa phương. Tôi tiếp tục ở lại trung đoàn truy quét tàn binh ngụy trên tuyến đường quốc lộ 20 từ Gia Kiệm cho đến tỉnh Lâm Đồng.
Rồi đơn vị trở lại rừng để xây dựng hậu cứ, không còn ở gần dân nữa. Gia đình tôi cũng được anh em đơn vị giúp cưa cây và cắt tranh mang ra Hoa Lạc làm một cái nhà. Vợ tôi tiếp tục làm công nhân cạo mủ cao su ở đồn điền cao su Hoa Lạc và làm rẫy trồng mì, bắp. Bà mẹ vợ tôi bị sưng phổi cấp tính đột ngột trong đêm khuya, xa bệnh viện không có điều kiện để đưa đi cấp cứu kịp thời nên bị chết. Gia đình vô cùng thương tiếc. Sắp giải phóng thì người anh hy sinh, mới hoà bình thì mẹ chết, gia đình chỉ còn hai chị em. Lúc này vợ tôi đang mang thai đầu lòng sắp sinh, hai chị em sống bơ vơ nơi xứ lạ xa dòng họ nội ngoại, cuộc sống vất vả tự lực là chính. Rồi vợ tôi sinh đầu lòng một đứa con trai, mang lại niềm vui khôn tả sau những ngày vợ chồng tôi hạnh phúc tại sân bay quân sự Biên Hoà. Để ghi nhớ kỷ niệm sâu đậm, tôi đặt tên cho con trai là Nguyễn Phi Trường. “Phi Trường- Sân bay” có vần Tr của cha và về sau hai con gái tôi cũng có tên vần đầu là Tr, đó là Trang và Trân - “Tròn, Trường, Trang, Trân”.
BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM - LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ CAM-PU-CHIA
Năm 1977, tôi được phân công phụ trách một trung đội phẫu để đi phục vụ cho D2, E4. Hành quân lên Tây Ninh để bảo vệ biên giới, rồi tiếp tục xảy ra chiến tranh biên giới Tây - Nam, tôi có mặt để phục vụ cho trận chiến đấu đầu tiên tại biên giới Campuchia. Tôi lại lao vào nhiệm vụ, xác định tư tưởng vững vàng, trong lúc vợ tôi sống khá vất vả trong hoà bình, vừa mồ côi cha mẹ, lại vừa mới sanh, nuôi con nhỏ. Tôi phải cố gắng khắc phục khó khăn gia đình, chấp hành nghiêm yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ biên giới đánh bọn diệt chủng Pôn Pốt, làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn Campuchia. Trong suốt quá trình chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tôi thường xung phong nhận nhiệm vụ những nơi khó khăn ác liệt nhất, chiến đấu liên tục, có tỷ lệ thương binh cao, nhất là thương binh trọng thương. Nhưng nhờ những kinh nghiệm chuyên môn trong kháng chiến chống Mỹ, tôi xử lý có hiệu quả các trường hợp bị thương ở ngay tuyến trước làm hạn chế tử vong, sau đó mới chuyển thương về tuyến sau phẫu thuật đảm bảo an toàn, hạ thấp tỷ lệ tử vong, tạo được sự tin tưởng cho anh em đồng đội an tâm chiến đấu. Tôi đã được đồng chí Phan Văn Đính, Trung đoàn trưởng trung đoàn E4 thời kỳ đầu tiên bảo vệ biên giới - năm 1977 xác nhận: Liên tục phục vụ chiến đấu và công tác tại đơn vị , là cán bộ có năng lực chuyên môn giỏi, luôn lấy thương bệnh binh làm mục tiêu phục vụ, có ý chí, có quyết tâm tốt, trực tiếp phẫu thuật nhiều thương binh nặng, được sự tín nhiệm của chỉ huy và cán bộ chiến sỹ quý mến.
Năm 1977, tôi được đơn vị bình chọn chiến sỹ thi đua cấp Trung đoàn, đây cũng là lần thứ 4 tôi đạt danh hiệu này. Năm 1978, tôi được phong quân hàm Thiếu uý và giữ chức vụ Đại đội phó C23 Quân y, vừa phụ trách chuyên môn vừa kiêm nhiệm làm Chính trị viên phó Đại đội.
Lúc này, đơn vị liên tục giải quyết chính sách ra quân cho anh em hạ sỹ quan rồi tiếp nhận các đồng chí y tá - y sỹ mới ra trường nghiệp vụ chuyên môn còn mới mẻ. Điều đó khiến nhiệm vụ của tôi càng nặng nề hơn bao giờ hết. Tôi vừa phải hướng dẫn chuyên môn cho anh em, vừa kết hợp giáo dục tư tưởng cho họ trong việc chấp hành các chính sách, quy định khi làm nghĩa vụ quốc tế. Trung đoàn lúc nào cũng nhận nhiệm vụ ở những nơi khó khăn ác liệt, chiến đấu liên tục, tỷ lệ thương binh cao, nhất là thương binh trọng thương. Và bệnh binh cũng rất nhiều, do ảnh hưởng của khí hậu rừng sâu, nước độc, chủ yếu là bệnh sốt rét thường biến chứng qua sốt rét ác tính. Trong khi lực lượng chuyên môn mới mẻ, không chỉ là y tá, y sỹ mới ra trường mà ngay cả đồng chí bác sỹ đại đội trưởng của tôi cũng mới.
Tôi nghĩ, mình chỉ là một người y sỹ mà phải thực hiện một trọng trách quá lớn, cùng với tập thể đảm đương cứu chữa lượng thương bệnh binh quá đông cho một trung đoàn chiến đấu đứng chân trên đất bạn, không có ngày nào mà không có thương binh, một chiến trường khó khăn ác liệt kéo dài, xa Tổ quốc, nên càng phải hết sức cố gắng, phải vững vàng làm gương cho anh em. Tôi lúc nào cũng nhận nhiệm vụ nơi khó khăn ác liệt nhất, có khi tôi cùng với anh em bộ binh ra ở tuyến trước để kịp thời cấp cứu thương binh nặng. Khi anh em bị thương thì tôi có mặt ngay và xử lý cấp cứu kịp thời nhiều ca thương binh nặng.
Có một ca thương binh quá nặng bị thương ngay tuyến trước, bị viên đạn phá vỡ cả mảng cơ và xương phía sau lưng, làm cho hai lá phổi bị hở, không khí tràn vào quá nhanh làm cho thương binh bị chèn ép, ngất không còn hơi thở. Tôi kịp thời xử lý ngay, dùng cả tấm nilon che mưa băng và quấn kín vết thương lại rồi cho thương binh nằm dựa vào người . Tôi ôm thương binh với tư thế nửa nằm nửa ngồi, tiêm thuốc cấp cứu ngay, phong bế novocain các vị trí làm cho thương binh thở từ từ trở lạ. Sau đó thương binh ổn định dần và được đưa về tuyến sau để giải phẫu khâu kín vết thương, xử lý hút dịch và khí tràn, kết quả thương binh được cứu sống. Cứ mỗi lần tôi xử lý cấp cứu thương binh thì được nhiều anh em bộ binh chứng kiến và tin truyền cũng được lan rộng ra cả trung đoàn, làm tăng thêm sự tin tưởng cho anh em an tâm chiến đấu và tôi được nhiều anh em tin tưởng và yêu quý. Khi ra trận nhiều đồng chí nói, có mặt đồng chí Bảy Tròn thì rất an tâm trong chiến đấu ở chiến trường xa Tổ quốc này. Khi thương binh vào đội phẫu dù nặng hay nhẹ thì anh em y tá, y sỹ bắt buộc tôi phải có mặt để xử lý cấp cứu và chỉ dẫn cho anh em. Đó là sự tín nhiệm của anh em lực lượng chuyên môn. Đó cũng là trách nhiệm của tôi, phải có mặt thì tôi mới an tâm. Cứ suốt ngày lẫn đêm khi thương binh đông tôi đứng giải phẫu, không phải hai bàn tay dính máu của đồng chí mình mà cả hai bàn chân tôi đứng ngập máu do vết thương bị công phá bởi mìn trái. Đồng chí chính trị viên trưởng đại đội luôn động viên tôi những lời nói chân tình, “ cố gắng ông Bảy ơi, không còn ai qua ông”. Mỗi lần tôi phẫu thuật thì đồng chí chính trị viên thường đứng trước cửa phòng mổ, khi tôi bước ra thì đồng chí kịp thời đưa tôi uống từng hớp nước chanh đường làm cho tôi vô cùng cảm động, quên hết cả mệt mỏi. Sau hậu phẫu rồi cũng không được nghỉ. Những ca thương binh nặng nằm lại để chờ đợi chuyển về tuyến sau thường xuyên kêu các đồng chí y tá trực muốn tôi gần gũi để chăm sóc, các đồng chí thương binh mới được an tâm.
Năm 1978, tôi được đơn vị bình chọn chiến sỹ thi đua cấp trung lần thứ 2, cũng là lần thứ 5 đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp trung đoàn và được trung đoàn bình chọn chiến sỹ thi đua cấp sư đoàn. Tôi được sư đoàn mời về trước để viết bài tham luận điển hình đọc trước đại hội chiến sỹ thi đua của sư đoàn. Tôi viết tập trung nhiều về trường hợp tôi xử lý cấp cứu một ca thương binh bị thương phổi hở ở tuyến trước, làm cho các đại biểu và ban tổ chức vô cùng xúc động, khen ngợi. Tôi được sư đoàn và quân y sư đoàn càng thêm tín nhiệm.
Cũng năm 1978, tôi được tin vợ sanh đứa con thứ hai là gái, lại một năm nữa được vinh dự cùng lúc được bình chọn là chiến sỹ thi đua 2 cấp trung đoàn, sư đoàn và hạnh phúc có được hai con, một trai và một gái. Vì quá xa, tôi không được nghỉ phép về chăm sóc người vợ yêu quý và nhìn mặt con. Vợ tôi đã vất vả lại vất vả thêm.
Năm 1979, cuộc chiến đấu càng thêm khó khăn ác liệt. Nhiệm vụ của trung đoàn là vừa hành quân chiến đấu vừa chốt chặn vùng gần biên giới Thái Lan, nơi tàn quân Pôn Pốt tập trung phòng thủ như cao điểm Palin, Melai, địa hình rừng sâu nước độc. Đất nước Campuchia từng xây dựng hình tượng con voi quay đầu ra báo hiệu cho nhân dân Campuchia không được vào rừng sâu nước độc này, nếu ai vào thì sẽ bị bệnh sốt rét ác tính chết ngay. Thêm vào đó, mìn, trái được gài dày đặc ở những khu rừng cao điểm biên giới này. Cả ngày lẫn đêm, ta và địch đánh nhau liên miên, thương vong quá nhiều, bệnh sốt rét thì chưa từng thấy. Đội phẫu không còn người để tiếp nhận và cũng không còn chỗ để bệnh nhân nằm. Tôi lúc này giống như con thoi, đảm đương công việc quá nhiều. Quân ta phải dùng xe tăng bọc thép mở đường để đưa thương binh về tuyến sau, tôi cũng phải hộ tống theo. Trên đường đi hễ gặp địch là đánh, có lúc bị nổ mìn trái. Rồi lại quay lại tuyến trước. Một lần tôi cấp cứu ca vết thương phổi hở (lần thứ 2)ở ngay tuyến trước, lúc đang chiến đấu giữa cánh đồng ruộng, chỉ được núp dưới cái ao khô giữa đồng trong đêm tối. Lúc này nằm tại hố ao có 9 thương binh, có 6 ca trọng thương như gãy xương, thủng bụng và cả vết phổi tôi đang cấp cứu. Chúng tôi chỉ lượm được 2 chiếc xe bò của nhân dân Campuchia bỏ chạy, mà lại không có bò, đẩy xuống ao để thương binh nặng nằm cấp cứu trong một điều kiện hết sức khó khăn, tới mức không có nơi để treo dây dịch truyền nước. Vết thương phổi hở do trúng viên đạn phá xuyên thẳng từ trước ra sau, phổi bị tràn khí quá nhiều và bị chèn ép nặng không thở được Tôi cấp cứu ngay, dùng mảnh ni- lông đậy kín lại 2 lỗ vết thương xuyên rồi xử lý khâu kín 2 lớp của 2 lỗ vết thương lại, phong bế novocain các điểm huyệt làm cho thương binh dễ thở, và hút khí tràn với dịch trong màng phổi ra, để cho thương binh nằm dựa vào lưng tôi với tư thế nửa nằm nửa ngồi, làm cho thương binh dễ thở và được ổn định dần dần. (thương binh tên Vạn, hiện nay xuất ngũ, nhà ở Long Hải). Còn hai đồng chí y tá thay phiên nhau đứng xách chai dịch truyền với tư thế để nước chảy được vào tĩnh mạch thương binh. Đêm tối chỉ dùng đèn pin, ba anh em loay hoay núp dưới ao hồ nhỏ bé để cứu chữa 9 ca thương binh trong đêm khuya. Sau đó đồng chí Phó chủ nhiệm hậu cần Trung đoàn bò đến ao báo cho tôi biết có xe đến để đưa thương binh về tuyến sau. Tôi thấy 3 xe chạy đến, 2 xe cứu thương và 1 xe M113 hộ tống đưa thương binh lên xe. Thương binh nặng quá nhiều, tôi phải đưa về tuyến sau để kịp thời gian giải phẫu, vì có 2 ca phải giải phẫu ngay. Ca sọ não và ca lủng ổ bụng về đến đội phẫu an toàn, đưa ca vết thương bụng lên bàn mổ để hồi sức chuẩn bị giải phẫu. Kíp mổ có đồng chí bác sỹ đại đội trưởng của tôi mổ chính và hai đồng chí y sỹ, một đồng chí mổ phụ và một đồng chí gây mê. Ở tuyến sau nên các đồng chí chuẩn bị khá chu đáo cho kíp mổ. Tiến hành giải phẫu hơn 1 giờ, tôi ở tuyến trước mới về, anh em nấu cho một tô mì ăn rồi nghỉ để sáng hôm sau trở lại chiến trường. Tôi nằm nghỉ mà không yên tâm. Với số lượng thương binh đông và nặng như thế này mà đang giải phẫu trên bàn mổ một ca kéo dài gần 2 giờ vẫn chưa thấy xong. Tôi ngồi dậy định đi đến phòng mổ xem ca mổ ra sao thì anh em chạy đến báo với tôi ca mổ bị tử vong ngay trên bàn mổ, đã bàn giao cho đồng chí Thành chính sách làm thủ tục để gói tử sĩ vào bịch nilon. Tôi lao đến ngay phòng mổ thì thấy đồng chí Thành chính sách đang quấn vải trắng và cột hết chân, tay ca tử sĩ. Tôi liền cho ngưng ngay. Tôi dùng kéo cắt nhanh hết vải trắng trên người banh hết lồng ngực và ổ bụng ra, tôi sờ lồng ngực thấy còn hơi ấm. Tôi liền xoa lớp ngoài lồng ngực và tôi kêu tổ gây mê hồi sức lại phụ. Trong ba lô tôi lúc nào cũng có bộ dụng cụ truyền máu ngược dòng và bộ dụng cụ cấp cứu gọn nhẹ. Tôi liền bọc bộ động mạch cẳng tay, đưa chai dịch truyền cao lên, dùng sức nén để đẩy nước dịch vào động mạch lẫn với máu còn ở trong động mạch để đẩy ngược về cung cấp cho tim hoạt động trở lại. Khi tôi dùng sức nén bên ngoài thì thấy nước dịch chảy được vào động mạch, từ 100 - 200 - 300 ml. Tôi mừng lắm, đã có kết quả rồi. Ca tử sĩ coi như đã chết, nằm trên bàn mổ qua 40 phút cấp cứu đã từ từ tỉnh lại. Ca phẫu thuật vết thương bị vỡ lách phải xử lý cắt bỏ lách. Do thời gian mổ xử lý cắt lách kéo dài làm cho thương binh bị mất máu, mà khi cắt một nội tạng của cơ thể đưa ra ngoài thì thương binh sẽ bị một cơn sốc mạnh. Người gây mê và phẫu thuật chính phải biết để xử lý (chưa kinh nghiệm qua thực tiễn). Thương binh chết lâm sàng, khi cắt lách xong đưa ra ngoài phải được theo dõi để dừng phẫu thuật, mà tập trung cho cấp cứu ngay.
Kíp mổ trở lại phẫu thuật tiếp. Kiểm tra lại và rửa ổ bụng, khâu đốn lại thành bụng. Kết quả ca phẫu thuật cắt lách theo phương châm “còn nước còn tát” đã cứu sống được thương binh. Đồng chí là bộ đội tình nguyện (tuổi trẻ khoảng 18 - 19 tuổi), hiện đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi đang ở tuyến trước lại được điều về chuẩn bị tổ chức một trạm xá để tiếp nhận ngay bệnh nhân sốt rét của D2 và các đại đội trực thuộc trung đoàn, từ vùng rừng cao điểm Mê Lai đưa về. Tôi với 7 đồng chí y tá và 5 đồng chí vệ binh phải tiếp nhận cùng một lúc trong khoảng thời gian ngắn đến trên 300 bệnh nhân sốt rét thường và có 5 ca sốt rét ác tính. Bệnh nhân nằm la liệt trên ván sàn nhà ăn tập thể của nhân dân bạn. Tôi nhìn không biết đâu là đầu và đâu là chân. Anh em lên cơn run, lạnh, ói mửa, nóng, mê man bất tỉnh. Nguyên tiểu đoàn 2 (D2) bị sốt rét gần hết.
Theo chủ trương của sư đoàn và trung đoàn, cần giữ anh em lại ở tuyến trước để điều trị nhanh lành bệnh, trả lại kịp thời cho đơn vị để có quân số chiến đấu. Việc chi viện của quân y sư đoàn về thuốc men và lương thực cũng không được kịp thời. Do khó khăn đường vận chuyển bị địch ngăn cản, địch tiếp tục đánh vào căn cứ của trung đoàn gây thương vong, phải tiếp nhận gần 20 ca thương binh, có cả nhân dân bạn. Tôi cùng với các đồng chí phải tập trung sức với trách nhiệm lớn lao và vô cùng vất vả khó khăn để điều trị và bảo vệ thương bệnh binh. Hơn một tháng vất vả chưa từng thấy.
Rồi tập trung hết sức để khám nhanh, kịp thời phân loại bệnh nặng nhẹ mà kết hợp điều trị và nuôi dưỡng. Phải điều trị đúng liều lượng, cả liều điều trị và liều dự phòng, cắt ngay cơn sốt đầu tiên, không để thương bệnh binh tái phát nhiều cơn sẽ bị kiệt sức nhanh, dễ biến chứng sang các thể sốt rét ác tính. Tôi nhiều đêm thức trắng để nghiên cứu điều trị cấp cứu 5 ca bị sốt rét ác tính với các thể khác nhau, rồi phải cấp cứu 20 ca thương binh, cả nhân dân bạn, trong đó có ca trọng thương bị gãy hai xương cẳng tay, dập nát, bị đứt động mạch phải thắt ga- rô.
Năm đồng chí vệ binh cũng vất vả, vừa làm anh nuôi phục vụ nuôi dưỡng bệnh nhân vừa phải bảo vệ canh gác vòng ngoài. Tôi động viên anh em cố gắng hết sức lực, cả các đồng chí bệnh nhân lành bệnh đang chờ về đơn vị cũng phải có trách nhiệm bảo vệ mình và anh em bệnh nhân chưa lành bệnh. Chúng tôi cũng được sự quan tâm, động viên thường xuyên của đồng chí Cần - Phó chính uỷ Trung đoàn, từ những lời nói trực tiếp qua điện thoại. Tuy biết tình hình khó khăn vất vả của trạm xá, trung đoàn rất an tâm và tin tưởng chúng tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Qua tình huống khó khăn vất vả và ác liệt đó, tôi cùng với tập thể xử lý, cấp cứu, điều trị, nuôi dưỡng thương bệnh binh đảm bảo trong thời gian ngắn nhất mà không một trường hợp nào tử vong. Anh em thương bệnh binh được điều trị lành bệnh trở lại đơn vị chiến đấu với số lượng đông nhất, đúng theo chủ trương chỉ đạo của trung đoàn và sư đoàn. Chỉ chuyển về tuyến trên, tuyến sau 5 trường hợp bị sốt rét ác tính, đã điều trị cắt được cơn của các thể sốt như thể sốt cao, co giật, thổ tả, lạnh giá, bị kiệt sức phải chuyển về tuyến sau để có thời gian phục hồi. Chuyển 20 ca thương binh trong đó có nhân dân bạn, đã xử lý phẫu thuật cưa 1/3 trên 2 xương cánh tay an toàn khi chuyển về tuyến sau.
Tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên chiến trường đất bạn cũng nhờ sự vận dụng kinh nghiệm thực tiễn học được từ chiến trường chống Mỹ trước đây. Cũng là lần đầu tiên lịch sử tôi vượt qua mọi khó khăn ác liệt như thế này, được trung đoàn và sư đoàn tin tưởng, anh em chiến sỹ và nhân dân bạn vô cùng thương mến, niềm tin tưởng trong chiến đấu ở chiến trường đất bạn nơi biên giới rừng sâu nước độc này.
Rồi tôi được trung đoàn cho nghỉ phép về nước thăm đứa con thứ hai mà lúc vợ tôi sanh ra nó tôi đang ở chiến trường bạn, chưa biết mặt mũi như thế nào. Tôi được đơn vị cho 20 ngày phép cả đi về. Trên đường đi và về, ở nơi đất bạn cũng vô cùng khó khăn, dễ bị mìn trái và cả phải đánh nhau khi gặp địch.
Về đến nhà, nơi chiến trường xưa với mái nhà tranh cũng do anh em đơn vị dựng cất, hơn 1 năm gặp lại, vợ và con tôi vẫn mạnh khoẻ. Nhìn thấy mặt mũi đứa con gái xinh đẹp giống cha, tôi mừng quá đỗi. Nhưng cuộc sống gia đình tôi tăng thêm vất vả. Vợ tôi một mình tự bươn chải. Vợ tôi là công nhân cạo mủ, kết hợp với làm rẫy, hàng tháng được mua 15 kg gạo (mốc), có tháng thì không được mua gạo, chỉ có hạt bo bo, thường xuyên ăn độn bo bo và củ mì. Hai đứa con thì một đứa đem đi gửi khắp xóm, còn đứa lớn được hơn 2 tuổi ở nhà một mình, ngủ dậy tự ăn uống, muốn đi chơi phải chui chung với lỗ chó mới ra được và muốn về nhà ăn cũng phải chung lỗ chó mà vào. Vì sáng vợ tôi thức sớm nấu cơm để sẵn, rồi đóng cửa nhà lại, tay thì bồng con, vai thì gánh cặp thùng đựng mủ đến người chị hoặc qua chòm xóm để gửi con nhỏ rồi đi cạo mủ cho đến quá giờ trưa mới về đến nhà. Lao động vất vả ngoài vườn cây cao su rậm rịt, bụng thì đói, nghĩ đến hai đứa con ở nhà không biết ra sao, mẹ thì đói, con thì ăn uống thất thường.
Hai đứa con tôi được gần cha những ngày nghỉ phép cũng là niềm an ủi đối với vợ tôi, xua bớt đi nỗi lo toan vất vả vợ tôi phải gánh chịu trong những ngày tháng tôi đằng đẵng xa nhà. Tôi cũng tranh thủ về quê thăm mẹ và các chị em, gia đình cũng vất vả, chỉ được no nhờ có lúa gạo. Rồi những ngày phép ngắn ngủi cũng qua, tôi lại rời Tổ quốc lên đường trở lại chiến trường đất bạn. Tôi nén lòng và lãng quên chuyện hậu phương để lo cho nhiệm vụ chung. Về tới đơn vị, anh em rất vui mừng, nói thủ trưởng chấp hành nghiêm quá, mỗi lần xin nghỉ là khó, sao không nghỉ thêm thời gian.
Cuối năm 1979, tôi rất vinh dự được đơn vị bình chọn chiến sĩ thi đua cấp trung lần thứ 3, ở chiến trường bạn là lần thứ 6 và được trung đoàn bình chọn chiến sĩ thi đua cấp sư đoàn lần 2, cũng được sư đoàn bình chọn chiến sĩ thi đua cấp quân khu lần thứ 2.
Sau đó tôi được ban chỉ huy trung đoàn mời lên giao nhiệm vụ. Đồng chí Cần lúc này là chính uỷ trung đoàn giao nhiệm vụ tôi. Đồng chí nói trung đoàn rất tin tưởng đồng chí, tuy đồng chí bằng cấp chuyên môn mới y sỹ nhưng những hành động chuyên môn nghiệp vụ của đồng chí vừa qua được quân y sư đoàn công nhận là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được cán bộ chiến sĩ trung đoàn tin tưởng, yêu quý. Sư đoàn và quân y sư đoàn đồng ý theo đề nghị của trung đoàn phong quân hàm trung uý và giao cho tôi làm đại đội trưởng quân y (C23) kiêm nhiệm chính trị viên trưởng (chế độ một thủ trưởng). Tôi từ chối nhiều lần với lý do tôi là y sĩ, làm sao lãnh đạo, điều hành cả đại đội gồm lực lượng chuyên môn và phục vụ thương bệnh binh cho cả trung đoàn chiến đấu trên đất bạn xa bệnh viện, xa biên giới. Cuối cùng đồng chí chính uỷ trung đoàn nhắc lại : “Cá nhân tôi tin tưởng đồng chí sẽ hoàn thành nhiệm vụ”. Tôi nghĩ, nếu mình không nhận thì sẽ bị cấp trên nhận xét là có vấn đề về tư tưởng và phải giải quyết chính sách cho về nước. Vì, lúc đó đang có chủ trương, với những sĩ quan cán bộ lâu năm mà không có điều kiện phát triển (như trường hợp tôi, trung đoàn giữ quá lâu, 8 - 9 năm y sĩ mà không cho đi đào tạo bác sỹ) thì giải quyết chính sách. Vậy là tôi nhận.
Vào cuối năm 1979, tôi làm đại đội trưởng kiêm nhiệm chính trị viên trưởng với một đồng chí y sỹ gây mê làm đại đội phó và một đồng chí y tá làm chính trị viên phó đại đội. Đại đội có 2 trung đội - 1 trung đội phẫu và 1 trung đội trạm xá, có 2 tiểu đội -1 tiểu đội vệ binh và 1 tiểu đội hậu cần.Vậy là đại đội quân y (C23) không có bác sỹ, đồng chí đại đội trưởng bác sỹ của tôi được điều về trung đoàn làm chủ nhiệm quân y.
Trung đoàn lúc này làm nhiệm vụ chốt chặn vùng biên giới và mở các chiến dịch đánh thọc sâu vùng cao điểm rừng Mê Lai, truy quét tàn quân Pôn Pôt ẩn núp đang xây dựng hậu cứ kiên cố. Địch tập trung số lượng mìn trái để gài bảo vệ hậu cứ và trên các tuyến đường hành quân của ta càng gia tăng, kết hợp với phân tán lực lượng nhỏ lẻ để đánh chiến thuật du kích cả ngày lẫn đêm, gây nhiều thương vong cho ta, chủ yếu là do dẫm vào mìn trái. Trung đoàn giao nhiệm vụ cho đội quân y phải trực sẵn sàng 24/24 để kịp thời cấp cứu phục vụ thương binh. Hễ nghe tiếng mìn nổ là có thương binh, mà hầu như cả ngày lẫn đêm đều có mìn nổ. Có trường hợp một đồng chí dẫm nổ 1 trái mìn mà gây thương vong hàng chục ca. Vào rừng Mê Lai thì càng độc hại, bệnh sốt rét càng nhiều, lại thêm thiếu nước uống giữa rừng sâu nước độc. Nước ở đây đúng thật là nước độc. Chính tôi nhìn thấy tận mắt, mức độc hại gấp bao nhiêu lần so với hồi tôi từ miền Tây tòng quân lên miền Đông (chiến khu ĐT1). Nước ở rừng sâu Mê Lai giống như màu thuốc bắc (đen thui) quân y phải bắt buộc tất cả đơn vị trung đoàn đốt cây rừng để lấy than mà lọc nước trong lại mới nấu cơm và nấu nước uống để giảm bị bệnh sốt rét. Sự khó khăn ác liệt đó làm cho tôi hình dung có những trường hợp còn khó khăn hơn thời kỳ chống Mỹ.
Tôi luôn vững vàng trong cương vị là Đại đội trưởng quân y liên tiếp 3 năm 1980 – 1982, với hai nhiệm vụ vừa đảm bảo chuyên môn vừa làm công tác chính trị, giữ vững truyền thống của đơn vị là lá cờ đầu, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao. Công tác chuyên môn đạt thành tích cao, phân loại đơn vị vững mạnh, được anh em đồng chí đồng đội tin tưởng, thương yêu và được quân y sư đoàn (F5) giao những ca cấp cứu phẫu thuật thương binh nặng tại tuyến trước, cũng là một trong số đội phẫu mạnh nhất của tuyến trung đoàn.
Một lần, quân y sư đoàn, trực tiếp là bác sĩ chủ nhiệm quân y tên là Kính, điện thoại giao tôi phẫu thuật một ca trọng thương vết thương ổ bụng, bị thương từ biên giới đưa về. Do đường vận chuyển vừa xa vừa bị địch phục kích, khi đến đội phẫu thời gian gần 2 ngày, tình trạng thương binh bị chóng nặng và bị nhiễm trùng viêm phúc mạc toàn bộ, sốt cao, vết thương ổ bụng hở đưa ruột ra ngoài, tuyến quân y tiểu đoàn lấy một cái tô để chụp bịt kín lại vết thương, không có khả năng chuyển về tuyến quân y sư đoàn kịp. Được các đồng chí chỉ huy trung đoàn- đồng chí Cần chính uỷ và đồng chí Dường trung đoàn phó- đến trực tiếp kiểm tra và động viên, tôi cố gắng tìm mọi cách để cứu đồng chí với phương châm “còn nước còn tát”. Sau 45 phút tập trung cấp cứu, thương binh ổn định sau đó được tiến hành phẫu thuật. Kíp mổ do tôi mổ chính, đồng chí y sỹ đại đội mổ phụ. Tiến hành mổ ổ bụng, thấy phân già lẫn lộn với máu có mùi hôi thối và ruột bị xung huyết tím bầm, phải xử lý ngay nước muối rửa sạch ổ bụng, có lúc phải ngưng mổ để cấp cứu và đắp kín nước muối ấm ruột lại. Vết thương bị lủng dập nát gần 2m ruột non và lủng ruột già ở góc đại tràng, dập nát cả mạc treo đại tràng, tiến hành cắt bỏ khoảng hơn 1m ruột non và nối lại theo phương pháp “bên bên” mới bảo đảm cho hai đầu nối của ruột non vững chắc, rồi tiến hành làm hậu môn nhân tạo ngoài thành bụng và cắt bỏ phần dập nát các lỗ lủng nhỏ của ruột non và mạc treo đại tràng, khâu kín lại và kiểm tra thật kỹ các nội tạng khác ở trong ổ bụng trước khi đốn lại thành bụng. Ca mổ kéo dài 4 giờ, sau hậu phẫu tôi trực tiếp theo dõi diễn biến và cho phác đồ điều trị. Tôi mạnh dạn sử dụng cho điều trị kháng sinh liều cao, khoảng 5 triệu đơn vị peniciline kết hợp với streptomycine tiêm chia đều thời gian 24 giờ liều từ cao xuống thấp. Một giờ sau khi mổ, thương binh hết mê rồi tỉnh dần, huyết áp cũng được ổn định, bụng xẹp dần và tiểu được, nhiệt độ giảm dần. Gần 2 ngày sau lỗ hậu môn nhân tạo ngoài thành bụng có hơi mùi thối của phân, kết quả các nội tạng và ruột nhu động trở lại rồi phân lỏng tự chảy ra hậu môn. Ca mổ đã thành công ngoài sức tưởng tượng của đơn vị, cả đội phẫu rất vui mừng và cá nhân đồng chí thương binh vừa khóc vừa nói với tôi những lời vô cùng xúc động: “Chỉ có ông Bảy mới cứu sống được tôi, như mẹ sinh ra tôi lần thứ hai”. Đồng chí thương binh đó giờ ở Hải Phòng (những năm về sau đồng chí thương binh này nhiều lần viết thư thăm tôi và có những lời nói vô cùng xúc động). Rồi các đồng chí y tá đội phẫu lần đầu tiên mới nhìn thấy kỹ thuật xử lý cắt bỏ ruột non dài như vậy, rồi kỹ thuật nối ruột và kỹ thuật làm hậu môn nhân tạo ngoài thành bụng. Anh em nói : “ Không ngờ kỹ thuật xử lý, thao tác của anh quá thành thạo, ngay cả việc anh cho phác đồ điều trị cấp cứu và trong lúc mổ anh vừa mổ vừa còn chỉ dẫn cho anh em tổ gây mê hồi sức cách xử lý cấp cứu và gây mê, giúp cho đơn vị có bài học thực tiễn quý giá”. Vì anh em y tá đa số là mới học ra trường.Ca thương binh được phục hồi ổn định, chuyển về tuyến quân y sư đoàn để đưa máy bay về nước, được các đồng chí y, bác sỹ và đồng chí chủ nhiệm quân y sư đoàn kiểm tra lại toàn bộ bệnh án. Rồi tôi nghe điện thoại có sự động viên của đồng nghiệp và quân y cấp trên. Đồng chí Quyết là bác sỹ chuyên khoa ngoại, phụ trách đội trưởng phòng mổ của tiểu đoàn quân y sư đoàn, khen tôi và có lời chúc mừng giải phẫu thành công ca trọng thương hiểm nghèo này. Riêng đồng chí chủ nhiệm quân y điện tôi hai lần, nói tôi làm bản thành tích ca mổ để quân y sư đoàn đề nghị tặng Huân chương chiến công. Tôi từ chối không làm vì cho rằng đó là trách nhiệm của mình. Mỗi khi tôi về quân y sư đoàn hội nghị, thường anh em gặp nhau để trao đổi nghiệp vụ. Tuy đồng chí Quyết là bác sỹ chuyên khoa ngoại cấp I, còn tôi mới là y sỹ, cũng được đào tạo chuyên khoa ngoại nửa năm trong rừng, nhưng hai anh em rất tôn trọng nhau (bằng tuổi). Anh có nghiệp vụ ngoại khoa khá giỏi, có lần hai anh em gặp nhau chung một chiến trường nơi rừng cao điểm Mê Lai, được quân y sư đoàn tăng cường cùng triển khai chung một chỗ. Gặp tôi, anh nói, “ có đội phẫu anh đây, tôi xin sư đoàn cho đội phẫu tôi về”. Anh nói vui, nhưng đó là biểu hiện sự tin tưởng lẫn nhau trong công việc và động viên nhau trong lúc ở chiến trường đầy khó khăn ác liệt. Cũng trở thành sự thật, 3 ngày sau, đội phẫu của anh lui về tuyến sau, tôi còn ở lại.
Tôi đảm trách 3 năm làm đại đội trưởng quân y, phục vụ cho cả trung đoàn tác chiến nơi xa biên giới, có lúc không có đồng chí bác sỹ nào, cũng là 3 năm liền không được nghỉ phép, với trách nhiệm năng nề phải thường xuyên có mặt để kịp thời động viên anh em tin tưởng với nhau trong chiến đấu.
Năm 1982, sư đoàn giải quyết chính sách cho tôi được phục viên về nước, nhưng trung đoàn còn muốn giữ tôi ở lại, với lý do là khi nào sư đoàn đưa bác sỹ về thay thế thì tôi phải có nhiệm vụ bàn giao và hướng dẫn trao đổi những nghiệp vụ chuyên môn cần thiết. Và tôi ở lại thêm 3 tháng nữa. Sau đó, sư đoàn cương quyết giải quyết chính sách cho tôi vì tôi làm y sĩ quá lâu trong nghề mà không được đi đào tạo bác sỹ. “Thường đồng chí nào chấp hành tốt, làm được việc thì muốn giữ lại đơn vị ”.
Tôi hơn 10 năm làm y sỹ, từ chiến tranh chống Mỹ cho đến đi làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Tôi có 6 năm chiến đấu trên đất bạn với các chức vụ, quân hàm thiếu uý, 3 năm đại đội phó quân y kiêm chính trị viên phó, 3 năm đại đội trưởng quân y, quân hàm trung uý kiêm chính trị viên trưởng, đảm đương nhiệm vụ phục vụ cấp cứu điều trị giải phẫu cho hàng ngàn ca thương bệnh binh, được trung đoàn, sư đoàn công nhận hoàn thành xuất sắt nhiệm vụ được giao. Tôi 3 năm liền là chiến sỹ thi đua cấp trung đoàn, 2 năm liền là chiến sĩ thi đua cấp sư đoàn, 2 năm là chiến sĩ thi đua cấp quân khu (Quân khu 7). Năm 1979, được trung đoàn đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí trong ban chính trị trung đoàn động viên viết thành tích. Trong đó có đồng chí Thành làm chính sách liệt sỹ, nhắc lại tôi và nói, anh viết chỉ tập trung cho ca cắt lách mà anh xử lý cấp cứu sống lại được là đủ anh hùng rồi. Tôi từ chối , nói để ưu tiên cho các đồng chí trực tiếp chiến đấu.
Sau 7 năm giải phóng miền Nam, tôi vẫn là người lính chiến, vẫn xa nhà không hưởng hoà bình, không được chăm lo cho gia đình. Biền biệt 3 năm liền không được nghỉ phép. Về tới nhà, vợ tôi kể lại, có tin báo anh đã hy sinh rồi. Tôi nhìn lên bàn thờ có hai nơi cắm nhang, vợ tôi nói của mẹ một bên và của anh một bên (đúng thật như thế).
CÙNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN, NHÂN DÂN XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI TRÊN CHIẾN TRƯỜNG XƯA
Tôi trở lại mảnh đất năm xưa là chiến trường. Với trách nhiệm là một đảng viên, giữ vững truyền thống và bản chất “Anh Bộ đội Cụ Hồ”. Với sức của người thương binh trở về đời thường, tôi lao vào mặt trận mới bình dị như bao người khác. Lao động sản xuất trên mảnh đất hoang vu. Vợ tôi là công nhân cạo mủ cao su có tay nghề giỏi, được bình chọn công nhân tiên tiến. Tôi tập trung lo cho cái no trước để có sức khỏe mới lao động nặng nhọc được. Tôi tìm đến những người dân quen biết năm xưa và đồng đội còn ở lại nơi chiến trường xưa. Tôi phải đi xe đạp lên tới Long Khánh, vào tận rẫy Bảo Bình để tìm giống và học hỏi trồng cây công nghiệp (cà phê, tiêu), với cây lúa giống ngắn ngày để xen canh, lấy ngắn nuôi dài. Gặp lại người quen năm xưa vui mừng không tả. Họ là những nông dân đậm tình thương mến. Người thì ôm tôi, người thì đứng gần hỏi thăm người thân, người thì chạy lo ăn uống, rồi ráp nhau bắt gà để làm một bữa tiệc tại nhà. Vừa ăn vừa tâm sự, hỏi tôi 7 - 8 năm rồi đi đâu và ở đâu, sao không trở lại đây chơi, có nhớ lại vùng Bảo Bình năm xưa không, ra thành phố ở chắc vui hơn đây nên lâu quá mới về. Tôi kể cho họ nghe, sau 7 năm giải phóng tôi vẫn chưa được hưởng hòa bình và chăm lo gia đình, tôi vẫn là người lính chiến xa nhà, xa Tổ quốc đi làm nghĩa vụ quốc tế trên đất Campuchia vô cùng khó khăn ác liệt, tưởng chừng không còn gặp lại gia đình và những người thân quen cũng như dự tiệc vui hôm nay. Mọi người đều xúc động. Rồi tôi hỏi kinh nghiệm làm rẫy, tôi quan tâm nhiều đến cây cà phê và cây lúa rẫy ngắn ngày, và mọi người tặng tôi mỗi thứ một ít như lúa giống, cà phê, giống gà và giữ tôi lại một đêm để sáng hôm sau có chuyến xe đò chạy ra Long Khánh. Rồi mọi người đem hết đồ và cả xe đạp tôi chất lên mui xe, phân công nhau đưa tôi ra tận Long Khánh rồi lên xe đò từ Long Khánh về Bà Rịa.
Tôi tập trung thực hiện ngay các quy trình ương giống cà phê để kịp vào thời vụ, và phóng nọc đào lỗ sẵn làm đất. Ba năm lao động vất vả, chỉ hai cậu cháu làm được khoảng gần 2 ha cà phê và 5 sào tiêu. Diện tích còn lại để trồng lúa ngắn ngày, chờ khi nào cà phê có thu hoạch thì mới trồng cây công nghiệp hết. Tôi hình dung sự vất vả trong lao động sản xuất cũng giống như thời kỳ chiến tranh, chỉ không xảy ra thương vong mà thôi. Sự vất vả của những năm lao động trên mặt trận mới, quần quật suốt ngày ngoài đồng, ngoài rẫy, có khi cả ban đêm, dầm mưa dãi nắng rồi lại sương đêm, quần áo khi khô, khi ướt, lúc sạch, lúc dơ, ăn thì không được no, tiền thì thiếu lên hụt xuống. Ngày thì trồng tỉa làm cỏ, đêm thì đào lỗ trồng cà phê đến 9 - 10 giờ đêm. Mùa nắng phải gánh từng thùng nước để tưới cà phê, tiêu, còn phải tranh thủ đi nhặt từng hạt cao su để đem bán quá rẻ mạt, bán cho đủ tiền để mua được ký cá trích và lạng thuốc rê. Phải ăn “thịt cọp” thường xuyên, tức làm muối ớt, muối tiêu và kho quẹt ( bộ đội trong rừng đặt tên là “thịt cọp”- đâm lộp cộp, nói để ăn cho ngon miệng). Hai cậu cháu tôi phải chịu đựng 3 năm liền như thế, nhiều người dân ở chòm xóm phải thốt lên: “Thằng bộ đội ở Campuchia mới về nó làm ăn dữ quá, dân ở đây không ai dám trồng cà phê, tiêu mà nó dám trồng, thằng bộ đội gan thiệt ”. Tôi nghĩ, đất này hồi chiến tranh nhân dân bám trụ ở đây sản xuất, giờ hòa bình rồi phải được tự do mà sản xuất chớ. Lúc nào tôi cũng bình dị như mọi người, gần gũi với dân và bạn bè để học hỏi về kinh nghiệm sản xuất, và được sự giúp đỡ của mọi người. Rồi bệnh sốt rét của nhân dân ở vùng chiến trường xưa vẫn tiếp diễn. Với nghề nghiệp của mình, tôi thấy phải có trách nhiệm điều trị cho dân. Vậy là đi cấp cứu cho dân trong đêm khuya, cứu chữa cho cả người dân bị thương tật trong lao động. Tôi được nhiều người thương mến.
Năm 1983, được các đồng chí đảng viên chi bộ ấp Đức Hiệp tín nhiệm, tôi được đại hội bầu làm Bí thư chi bộ ấp. Năm 1984, trong đợt bầu cử HĐND ba cấp, tôi vinh dự được huyện Châu Thành và xã Ngãi Giao giới thiệu ra ứng cử HĐND hai cấp huyện và xã. Từ chỗ nhân dân thương mến, được tín nhiệm của cử tri, tôi trúng cử Đại biểu HĐND huyện và xã Ngãi Giao, được bầu làm chủ tịch UBND xã Ngãi Giao vào năm 1984.
Trách nhiệm thêm nặng nề hơn, từ chỗ làm Bí thư chi bộ ấp thời gian 1 năm rồi Đảng, Nhà nước giao thêm chức vụ cao hơn và cũng được như đồng chí Mười Tập và đồng chí Ba Tiến đến gia đình để vận động tôi ra tham gia xây dựng địa phương. Tôi nói, 7 - 8 năm hòa bình rồi mà tôi chưa được chăm lo cho gia đình, hiện giờ gia đình tôi còn khó khăn vất vả lắm, 3 năm tôi tập trung nhiều công sức để đầu tư vào mảnh đất năm xưa này mà chưa thu lợi được bao nhiêu. Với trách nhiệm là đảng viên, tôi tham gia xây dựng tại ấp là được rồi. Đồng chí Tám Cường, Bí thư Huyện uỷ Châu Thành (cũ) cũng đến tận gia đình tôi để xem hoàn cảnh cuộc sống như thế nào. Đồng chí đi xem vườn cà phê, tiêu của tôi đang ra trái chín, đồng chí khen giống tốt và vườn quá đẹp. Tôi nói còn vất vả lắm, mùa nắng phải gánh nước từng thùng để tưới mà được như vậy, nếu có máy tưới thì đẹp hơn nữa. Rồi đồng chí nói, thôi được rồi, để đồng chí về xem lại mấy cái máy dầu bỏ lăn lóc tại Huyện uỷ, nếu được thì đồng chí đề nghị hóa giá cho một cái. Đúng tuần sau, tôi về huyện họp, đồng chí biểu tôi về làm đơn mua máy. Vừa mừng và vừa lo, sợ không có đủ tiền để mua, vì cà phê thì mới có trái chưa thu hoạch. Tôi tới xem máy, chỉ còn lốc máy và hộp số, cho nên định giá cũng không bao nhiêu tiền. Rồi thu hoạch cà phê bán để sửa máy hoàn chỉnh. Được máy tưới, gia đình mừng quá xá, cám ơn Đảng, Nhà nước và cá nhân đồng chí Bí thư Huyện uỷ (Anh Tám Cường) giúp gia đình tôi bớt đi sự vất vả và giảm đi bao công sức, có thời gian để tập trung lo cho công việc chung (cũng là lời động viên bằng hiện thực). Tưới bằng máy làm cho cây tăng trưởng nhanh và năng suất cao, đem lại hiệu quả hơn. Tôi còn đem máy tưới giúp cho dân xung quanh, làm cho người dân cảm mến. Trong lúc khó khăn, với hai nhiệm vụ vừa việc nước vừa việc nhà, với sự nỗ lực của bản thân và giúp đỡ của tập thể, nhân dân, tôi hoàn thành cả hai nhiệm vụ.
Năm 1985, xã Ngãi Giao được tách chia làm 4 đơn vị hành chính, tôi được phân công làm Bí thư chi bộ xã Láng Lớn, nay là xã Xà Bang.
Láng Lớn là một xã mới, cơ sở vật chất gặp nhiều khó khăn hơn so với 3 xã mới kia, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nhưng có thuận lợi là thổ nhưỡng khí hậu rất thích hợp với cây công nghiệp cà phê và tiêu. Tôi lấy từ hiệu quả của gia đình tôi mà vận động nhân dân nhanh chóng trồng cây cà phê và cây tiêu, với diện tích trồng theo quy trình xen canh, trồng cà phê xen cây lúa và xen cây bắp (lấy ngắn nuôi dài). Tôi chọn giống tốt từ vườn nhà tôi và hướng dẫn quy trình ươm. Có một số người dân mới đến không hiểu biết về cây cà phê nghĩ cây cà phê trồng 8 - 9 năm mới có trái (ngay tôi lúc ở bộ đội về cũng nghĩ thế). Từ qua thực tế, biết rồi giải thích cho dân, trở thành một vấn đề thời sự tự phát, người dân đi đâu, ngồi đâu, làm việc gì, lúc nào cũng nhắc đến phải trồng cà phê, rồi tự nhiên trở thành một phong trào mạnh trong toàn xã. Giá cả thị trường lúc này ổn định, kinh tế gia đình tôi ngày càng phát triển, mở rộng trồng cà phê, tiêu lấp đầy hết diện tích trồng còn lại và chăn nuôi thêm bò sinh sản. Vợ tôi nghỉ làm công nhân cao su vì có con nhỏ (sanh đứa con gái út đặt tên là Trân), ở nhà phụ lo trang trại, chăm sóc gia đình và nuôi con.
Năm 1986, tôi được Ban Thường vụ Huyện uỷ Châu Thành điều động về nhận nhiệm vụ làm Giám đốc Công ty kỹ thuật cây trồng huyện (là công ty đầu tiên được thành lập làm điểm của tỉnh Đồng Nai). Vậy là lần thứ hai tôi được các đồng chí Ban Thường vụ Huyện uỷ vận động về huyện, lúc này gia đình tôi cuộc sống khá ổn định. Ban đầu, tôi từ chối vì năng lực hạn chế, làm giám đốc phải có bằng cấp, tôi thì mới có bằng trung học quân y, không đúng với vị trí đó. Rồi các đồng chí nói, “chủ trương Ban Thường vụ và Ban chấp hành thống nhất điều động đồng chí về đó để cơ cấu nhân sự cho Đại hội tới, cũng là Nghị quyết Đại hội phải tập trung đầu tư phát triển cây công nghiệp (cà phê) về hướng lộ 2. Đồng chí đã có kinh nghiệm từ làm kinh tế gia đình và được nhân dân lộ 2 tín nhiệm, Ban Thường vụ tin chắc đồng chí sẽ làm được, còn bằng cấp lúc này nhiều người cũng không có”. Mình là đảng viên, nói đến Nghị quyết của Đảng thì phải chấp hành.
Vậy là công ty được thành lập, được điều người từ các công ty bạn trong huyện và các phòng ban của ngành nông nghiệp, lực lượng chuyên môn cũng khá đông, và được sự quan tâm của tỉnh, huyện tạo điều kiện thuận lợi cho công ty mới làm điểm của tỉnh. Tôi tập hợp được lực lượng chuyên môn, tạo được sự đoàn kết và quan hệ tốt với các cấp uỷ cơ sở, được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, thực hiện và cụ thể hóa Nghị quyết huyện đảng bộ, tập trung đầu tư và phát triển cây công nghiệp (cà phê) những vùng có thổ nhưỡng thích hợp.
Tôi xin chủ trương, thuê mướn cho khảo sát quy hoạch chi tiết chuyên ngành những vùng trồng được cây công nghiệp có kết quả, toàn huyện có từ 7.000 - 10.000 ha trồng được cà phê. Tôi mạnh dạn vay vốn, cả vốn ngoại tệ để tập trung mua vật tư thiết bị, thực hiện phương thức hợp đồng hai chiều trực tiếp với hộ nông dân, ứng trước phân bón, thuốc trừ sâu, máy tưới, dây ống cho hộ nông dân, tới mùa thu hoạch nông dân trả lại bằng sản phẩm như cà phê, lúa, bắp, mì. Phương thức này làm cho nông dân vô cùng phấn khởi và tin tưởng, chính quyền địa phương rất đồng tình và ủng hộ, nông dân giao trả sản phẩm đúng theo hợp đồng làm cho công ty kinh doanh hoạt động có hiệu quả.
Tôi từ nhà nông mà ra, biết cái khổ của nông dân trong thời điểm bao cấp này, người nông dân sản xuất nông nghiệp thiếu đủ thứ, tự lực là chính, “mình hiểu và lo cho dân thì dân sẽ ủng hộ mình”.
Công ty tổ chức mạng lưới xuống tận cơ sở, xây 6 trạm để chứa vật tư thiết bị, đưa người có chuyên môn xuống tận từng hộ gia đình để hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, rồi tiếp nhận sản phẩm hai chiều của nông dân trả ngay tại cơ sở, tạo thuận lợi cho nông dân đỡ mất thời gian, thực hiện khép kín “hai đầu nhận và giao”.
Công ty còn làm được 2 vườn ươm giống cà phê và tiêu, lấy từ giống vườn nhà tôi, được đa số nông dân là bạn bè đồng chí ưa chuộng vì giống tốt, có năng suất cao. Tôi cho hàng tấn hạt giống cà phê, hàng ngàn bầu tiêu, được nhiều người thông tin quảng cáo nói nửa đùa nửa thật: “giống của Bảy Tròn tốt lắm”, rồi trở thành thời sự phong trào giống cây cà phê cả huyện.
Công ty đem về cho nông dân hơn 3000 chiếc máy nổ các loại, hàng ngàn tấn phân, hàng trăm tấn dây ống các cỡ và hàng trăm tấn thuốc trừ sâu các loại. Rồi công ty cũng nhận lại sản phẩm tương ứng theo hợp đồng. Công ty có trong kho dự trữ cà phê hàng trăm tấn, kinh doanh của công ty hiệu quả. Công ty có nguồn vốn lưu động tự có hàng tỷ đồng, ở thời điểm này là lớn lắm. Diện tích cà phê tăng vọt rất nhanh, từ 1.000 ha lên 3.000 đến 4.000 ha.
Cuối năm 1986, Đại hội huyện Đảng bộ, tôi được tín nhiệm bầu vào Ban chấp hành đảng bộ và được vinh dự bầu vào Ban thường vụ Huyện ủy. Sự tín nhiệm của tập thể làm cho tôi phải phấn đấu nhiều hơn nữa. Tôi rất chịu khó học tập và khiêm tốn học hỏi những đồng chí lớn tuổi đi trước, sau đó tôi đi học bổ túc văn hóa rồi học tại chức lớp trung cấp kinh tế ở tỉnh mở.
Năm 1987, tôi được giới thiệu tiếp tục ra ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, đắc cử với số phiếu 99%. Tôi không ngờ cử tri tín nhiệm bầu tôi với số phiếu cao như thế. Và tiếp đó, tôi lại được đại biểu hội đồng nhân dân bầu giữ chức Phó chủ tịch UBND huyện Châu Thành (cũ) phụ trách kinh tế ngành nông nghiệp.
Năm năm tôi làm Phó chủ tịch huyện phụ trách ngành nông nghiệp ( qua 4 đời chủ tịch huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai ). Về cá nhân tôi, mọi việc thuận lợi, gia đình cuộc sống ổn định, kinh tế thu nhập năm sau cao hơn năm trước nhờ cây cà phê, tiêu, nhờ nhiều lần trúng giá, làm cho tôi an tâm để tập trung lo công việc chung. Tôi tự đặt mình là một người của địa phương, vì cuộc đời chinh chiến mình chiến đấu ở chiến trường xưa này. Tôi ra sức học tập lý luận về đường lối xây dựng kinh tế -xã hội, về xây dựng Đảng, về hoạt động của mặt trận, tạo sự đoàn kết nhất trí cao trong nội bộ, sống làm việc vì dân, gần dân, hài hòa với tất cả mọi người, gắn bó với cơ quan đơn vị ở cơ sở, tạo được sức mạnh tổng hợp. Tôi được nhiều người ủng hộ và quý mến.
Là một thành viên trong Ban thường vụ Huyện ủy, tôi luôn tự bảo mình phải gương mẫu trên mọi công việc. Lúc này, xã hội nảy sinh nhiều sự cố khá phức tạp, như vỡ nợ hợp tác xã tín dụng, các doanh nghiệp thì bị thua lỗ, có sự tranh chấp chiếm dụng vốn lẫn nhau làm ngưng hoạt động kinh doanh để đi đòi nợ khắp cả nước. Rồi dân tập hợp đông người kéo đến cơ quan làm việc và ngăn đường làm cản trở giao thông. Tôi trực tiếp gặp dân để đối thoại rồi giải quyết được nhiều việc làm cho dân tin tưởng, góp phần ổn định trật tự xã hội. Có lúc tôi vừa làm Phó chủ tịch vừa phải kiêm nhiệm làm Giám đốc Công ty kỹ thuật cây trồng. Tôi chấp hành và hoàn thành tốt nhiệm vụ, lãnh đạo đưa diện tích cà phê từ 4000 ha tăng lên 6000 ha, tiêu từ 300 ha tăng lên gần 1000 ha. Đời sống nhân dân được ổn định, nhiều hộ dân giàu lên vì trúng giá và nhân dân thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp, thu bằng sản phẩm theo thời vụ, có những năm thu được hàng trăm tấn cà phê thuế.
Đến năm 1991, tỉnh Đồng Nai tách ra ba huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc cùng với đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo để thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tôi được Ban thường vụ Huyện ủy và Ban chấp hành phân công làm Chủ tịch huyện Châu Thành. Tôi từ chối quyết liệt và tôi giới thiệu các đồng chí khác. Cuối cùng Ban chấp hành đề nghị giới thiệu thêm hai đồng chí nữa với tôi là ba đồng chí để ban chấp hành bỏ phiếu tín nhiệm. Kết quả tôi được 99% phiếu để giới thiệu ra đại biểu hội đồng nhân dân bầu tôi làm chủ tịch huyện.
Năm tôi làm Chủ tịch huyện Châu Thành, mọi việc diễn ra thuận lợi, công việc không có gì khó khăn, phức tạp.
Tôi bắt tay vào củng cố tổ chức cán bộ, xây dựng lề lối làm việc và phân công cụ thể nhiệm vụ cho các thành viên ủy ban huyện. Với một huyện lớn, địa bàn rộng, dân cư quá đông, gần 300 ngàn dân, gần 90% lao động nông nghiệp, ngoài công việc phụ trách chung, tôi tập trung những việc phải làm và làm bằng được. Với sự nhất trí của Ban thường vụ, Ban chấp hành Huyện ủy và tập thể thành viên ủy ban, thông qua nghị quyết của hội đồng nhân dân, chủ trương đưa điện về nông thôn để phục vụ sản xuất và sinh hoạt là một trong những việc lớn cần tập trung thực hiện.
Với nguồn vốn được cho phép hình thành từ thanh lý bán một số tài sản, trong khoảng thời gian ngắn, tôi trực tiếp đi quan hệ ngành điện xin được công suất hàng ngàn KVA điện rồi cùng với tập thể và địa phương cơ sở kéo khoảng 50km đường điện trung thế cho hai tuyến lớn là đường quốc lộ 2 và quốc lộ 15, và một nhánh vào xã Xuân Sơn. Đưa được điện về nơi chiến trường xưa thành công, tôi nghĩ những hành động và quyết tâm cũng không kém gì khi còn ở bộ đội. Rồi tiếp tục giải quyết những việc còn khó khăn. Tôi quan tâm đến xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và giáo dục, y tế, trả tiền dạy thêm cho các thầy cô giáo kịp thời. Rồi giải quyết vốn để xây dựng bệnh viện (bệnh viện Bà Rịa hiện nay). Ngoài vốn nhà nước cấp, còn phải vận động nhân dân có vườn cà phê, tiêu đóng góp, gia đình tôi gương mẫu trước ủng hộ nửa tạ cà phê (50 ký), không để công trình kéo dài do thiếu vốn.
Rồi phải trả tiền nợ do hậu quả trước đây để lại cho các đơn vị bạn. Tôi có tính dễ dãi và quan tâm đối với cán bộ nhân viên, đã giải quyết nhiều trường hợp khó khăn về nhà ở cũng như các khó khăn khác. Có lúc tôi nhường tiền lương cho những đồng chí khó khăn lãnh, làm cho anh em đồng chí cảm động và an tâm trong công việc. Kinh tế gia đình tôi lúc đó thu nhập khá cao, gần 200 triệu đồng một năm (ở thời điểm lúc này là khá lớn).
Từ khi vào tổ chức quân đội cho đến rời khỏi quân đội về tham gia xây dựng địa phương, tôi được cấp trên và nhiều cán bộ đồng chí, đồng đội, anh em nhân viên khen về đạo đức lối sống trong sáng, mà điều quan trọng hàng đầu là luôn nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, gương mẫu, là trung tâm đoàn kết nội bộ, không kèn cựa địa vị, không dao động trước những khó khăn, quan điểm chính trị vững vàng, luôn phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. Tôi nghĩ mình với vị trí đứng đầu của khối nhà nước, chức vụ Đảng là Phó Bí thư huyện ủy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững khối đoàn kết vững mạnh.
Có một trường hợp tôi cũng cần nói ra đây, lúc tôi làm Chủ tịch huyện Châu Thành ( nay là Thị xã Bà Rịa), tôi tham gia cùng phòng cấp cứu Bệnh viện Bà Rịa cấp cứu anh chị Chín Trương( nguyên là Giám đốc Sở Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn) do bọn cướp đánh vỡ sọ não. Trong đêm khuya, tôi đưa anh chị vào bệnh viện. Việc thao tác xử lý cấp cứu của y, bác sỹ làm tôi không hài lòng. Với cái máu nghề nghiệp, tôi phải xông vào cùng với các y, bác sỹ để chỉ dẫn xử lý cấp cứu kịp thời cho anh chị. Nhưng do vết thương sọ não quá nặng, chuyển lên đến bệnh viện Chợ Rẫy ngày sau thì chị Chín chết, anh Chín Trương còn sống. Hiện nay anh ở tại Thị xã Bà Rịa, mỗi lần gặp tôi, ảnh lại nhắc đến chị Chín - người vợ yêu thương bị bọn cướp đánh chết.
Năm 1994, huyện Châu Thành được chia tách thành ba đơn vị hành chính: Thị xã Bà Rịa, huyện Tân Thành và huyện Châu Đức. Huyện Châu Đức là nơi có nhiều mặt khó khăn nhất. Tôi suy nghĩ, muốn làm nhanh về công tác nhân sự và đừng để hậu quả mất đoàn kết sau khi chia tách, tôi gặp trực tiếp đồng chí Bí thư Tỉnh ủy (Anh Tư Hy) xung phong về huyện Châu Đức. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nói, “ vậy thì quá thuận lợi rồi, chỉ còn vướng chỗ huyện Châu Đức thôi, đồng chí có ý thức tốt lắm”. Rồi mọi việc diễn ra đúng như tôi nghĩ.
Rồi cũng có nhiều đồng chí cán bộ xin theo tôi về huyện Châu Đức, cùng đồng cam cộng khổ xây dựng một huyện mới có nhiều khó khăn so với thị xã Bà Rịa và huyện Tân Thành.
Hai nhiệm kỳ tôi làm bí thư, từ năm 1994 – 2005, hơn 10 năm ở huyện Châu Đức. Thuận lợi, đây là nơi chiến trường xưa của tôi thời kỳ chống Mỹ. Và đây cũng là nơi tôi đã có quá trình tích lũy trong quan hệ lúc còn làm công tác chính quyền, tạo được mối thân quen trên và dưới. Đây cũng là nơi tôi đầu tiên làm bí thư ấp, chủ tịch xã, rồi làm bí thư xã. Nay, tôi lại được làm bí thư huyện, nơi hai thời kỳ tôi được trưởng thành, thời kỳ chống Mỹ và thời kỳ hòa bình xây dựng địa phương. Với một huyện mới, mọi việc đều mới. Dân số và diện tích tự nhiên của huyện chiếm 50% so với hai huyện, thị kia, lại nhiều dân tộc, lao động nông nghiệp chiếm trên 90%, cơ sở hạ tầng yếu kém trầm trọng, cơ sở trường lớp thiếu thốn, các cấp học còn học ca ba, trật tự xã hội là nơi điểm nóng của tỉnh, nhiều cơ sở Đảng còn yếu kém.
Tuy nhiên, mọi việc diễn ra thuận lợi, thiên thời địa lợi, nhân hòa, “cảnh cũ người xưa”. Tôi bắt tay vào công việc củng cố ngay công tác tổ chức cán bộ, xây dựng lề lối làm việc từ huyện cho đến cơ sở các xã, thị trấn, đồng thời xây dựng đề án công tác xây dựng Đảng, coi đây là khâu then chốt, con người quyết định tất cả.
Về lĩnh vực kinh tế, cà phê giá thị trường đang ở mức cao nhất từ trước đến nay, cao su được giá. Diện tích hai cây chủ lực này hiện có khoảng 13.000 ha trên diện tích đất canh tác nông nghiệp, trong đó cao su 10.000 ha, cà phê 3000 ha. Tôi tiến hành chỉ đạo rà soát lại để quy hoạch từng vùng, bố trí cây trồng thích hợp với thổ nhưỡng, ưu tiên đầu tư cho cây công nghiệp cà phê, tiêu. Rồi tiêu tiếp tục được giá,với diện tích hiện có khoảng 300 ha. Diện tích hai cây này tăng rất nhanh, cây cà phê từ 3000 ha tăng lên 6000 ha, cây tiêu từ 300 ha tăng lên 6000 ha. Tiêu có giá cao nhất từ trước đến nay.
Cây ngắn ngày được nhân dân áp dụng giống mới, cây bắp lai 100% đi đầu toàn tỉnh và khu vực, hàng năm diện tích gieo trồng khoảng 10.000 ha. Huyện hình thành mô hình phát triển sản xuất kinh tế hộ trang trại, cả trồng trọt và chăn nuôi, với số lượng quy mô đi đầu toàn tỉnh.
Tôi mạnh dạn đưa ra chủ trương huy động vốn trong dân để phục vụ lại cho dân, mượn tiền dân không lãi để kéo điện vào vùng cây công nghiệp, cà phê, tiêu, kịp thời phục vụ cho sản xuất (tưới tiêu). Xin chủ trương, tỉnh đồng ý và khen việc làm này. Trong lúc ngân sách gặp khó khăn, tôi cho thành lập ngay nhiều tổ của tổ chức mặt trận, đoàn thể huyện và xã, cũng như các tổ chức xã hội khác xuống từng hộ dân, phân loại đối tượng có nguồn thu cao về cây cà phê, tiêu. Nhân dân rất đồng tình ủng hộ. Với phương thức này, đã thực hiện mượn được gần 1 tỷ đồng, giá trị là đã kéo được 20 km đường điện trung thế. "Mượn của dân phục vụ lại cho dân" - chủ trương đã thành công.
Rồi tiếp tục chủ trương vận động vốn 100% nhân dân vùng cà phê, tiêu để làm đường nhựa đầu tiên của huyện Châu Đức. Qua những chủ trương và sự cố gắng của huyện Châu Đức trong lúc tỉnh khó khăn về ngân sách, từ đó về sau tỉnh rất quan tâm ưu tiên lấy huyện Châu Đức làm điểm để tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng như trường học, chợ, thủy lợi, trạm xá, điện, đường vào các vùng đồng bào dân tộc, vùng có đạo và cũng được “ tôn hoá” nhà ở cho dân tộc Chơ Ro.
Làm cho nhân dân thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với vùng căn cứ cách mạng, người dân tộc, người dân theo đạo. Tôi chớp được thời cơ rồi cùng với đồng chí trưởng công an và huyện đội trưởng bàn tính kế hoạch xây dựng lực lượng, kết hợp với Mặt trận đoàn thể xuống trực tiếp từng hộ dân những nơi có điểm nóng. Thăm dò ý kiến lòng dân và đối thoại những nội dung tranh chấp, khiếu kiện... Muốn kết quả tốt, tôi mời hai đồng chí chỉ huy trưởng cùng đi với tôi xuống trực tiếp gặp dân trước, rồi đến gặp các vị linh mục và chức sắc Thiên chúa giáo và Phật giáo để tìm hiểu những nguyên do sai, đúng của cấp chính quyền cơ sở dẫn đến tình trạng để xảy ra những vụ việc tranh chấp, khiếu kiện kéo dài. Cái nào đúng, tôi trực tiếp giải thích cho dân hiểu thêm về pháp luật, còn cái nào chính quyền sai thì tôi sẵn sàng xin lỗi và nhận khuyết điểm trước dân. Những việc làm trên đã đem lại nhiều kết quả, nhân dân rất đồng tình và sẵn sàng tha thứ, các điểm nóng đã được ổn định.
Tôi muốn khơi lại truyền thống lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Châu Đức xưa, cũng là nơi chiến trường xưa của tôi và đồng chí, đồng đội tôi chiến đấu những lúc gian nan ác liệt nhất, giành nhau cái chết, chia nhau từ lon gạo, hạt muối, viên thuốc… Tôi muốn có điều kiện các đồng chí, đồng đội tôi còn sống sót trở lại đây để thăm lại chiến trường xưa, để có dịp gặp các đồng chí, đồng đội và nhân dân thân thương năm nào, rồi để xem lại sự đổi thay của huyện Châu Đức ngày nay. Ý muốn đó trở thành hiện thực khi có sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, cấp trên và có sự đoàn kết một lòng của Đảng bộ, nhân dân Châu Đức ngày nay, có sự góp sức của các đàn anh đi trước và nhiêu đồng chí, đồng đội, chỉ huy chiến đấu trên chiến trường này.
Có thể nói, huyện Châu Đức là đơn vị dẫn đầu về viết sử và đã xuất bản nhiều cuốn sử truyền thống của Đảng bộ nhân dân Châu Đức xưa, và các cuốn sử của các trận đánh lớn như : Trận đánh Tầm Bó, Chòi Đồng, Kim Long và chiến dịch chiến thắng Bình Giã… Tôi có dịp gặp lại nhiều đồng chí, đồng đội, các đồng chí lãnh đạo chỉ huy cùng chung đơn vị với tôi ở hai thời kỳ chống Mỹ và làm nghĩa vụ quốc tế Campuchia. Họ đều vui mừng trước sự thay da đổi thịt quá nhanh của huyện, rồi nhớ lại thành tích cá nhân của tôi gắn bó liên tục 19 năm chinh chiến với một đơn vị trung đoàn (E4) anh hùng. Hiện nay có chủ trương của Trung ương, Nhà nước, quân đội cho xét lại đối với những đồng chí có thành tích trước đây, đề nghị phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiều đồng chí động viên tôi viết thành tích để các đồng chí xác nhận, tôi nghĩ cũng khó lắm, thời gian đã qua lâu rồi làm sao nhớ lại hết, cộng thêm nhiều yếu tố khách quan bây giờ khác xưa. Tuy nhiên, được sự nhiệt tình giúp đỡ của các đồng chí, đồng đội và các anh, chị, qua nhiều lần hội nghị đã xét thành tích cho tôi, được các đồng chí góp thêm về những thành tích, những hành động, việc thật có thật. Nhờ có chủ trương của Đảng, Nhà nước và quân đội, có sự nhiệt tình của đồng chí, đồng đội và các cấp xét duyệt đề nghị, đến ngày 28 tháng 4 năm 2000, tôi vinh dự được Chủ tịch nước quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tôi cũng được tặng thưởng gần 40 huân, huy chương các loại và danh hiệu khen thưởng khác: 6 năm chiến sĩ thi đua cấp Trung đoàn, 2 năm chiến sĩ thi đua cấp Sư đoàn, 2 năm chiến sĩ thi đua cấp Quân khu.
NHỮNG ĐIỀU NHÌN LẠI
“Nghĩ về mình”, tôi muốn có một đôi lời mang tính chất tâm sự và giãi bày tấm lòng mình với mọi người.
Tôi sinh ra trong một gia đình cách mạng nghèo khổ ở vùng đất anh hùng ấp Bắc, xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. 14 tuổi chưa biết cách mạng là gì, phải qua thời gian được Đảng rèn luyện tôi mới có lòng yêu nước, biết phân biệt ta-địch, bạn- thù, mới dần dần giác ngộ. 16 tuổi, tôi xung phong tòng quân theo cách mạng, được Đảng và quân đội dẫn dắt đi suốt cuộc hành trình chống xâm lược của dân tộc, đã tạo tôi từ một quân nhân bình thường trở thành một sĩ quan quân đội và cán bộ xây dựng địa phương.
Tôi được Đảng và quân đội giáo dục, rèn luyện sớm trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam lúc 19 tuổi.
Tôi được đào tạo qua các trường cứu thương, y tá, y sĩ chuyên khoa ngoại, trung cấp kinh tế, quản lý Nhà nước, cao cấp chính trị và hoàn chỉnh cử nhân chính trị.
Tôi được giới thiệu ra ứng cử Hội đồng nhân dân nhiều khóa của các cấp xã, huyện và tỉnh với số phiếu tín nhiệm của cử tri khá cao, có khóa Hội đồng nhân dân huyện đạt trên 90%, Hội đồng nhân dân tỉnh đạt 88%, dẫn đầu danh sách đại biểu tỉnh.
Tôi được vào cấp ủy Đảng các cấp, từ Bí thư chi bộ ấp, Phó bí thư đảng ủy xã, Bí thư chi bộ xã, Thường vụ Huyện ủy, Phó bí thư huyện ủy và Bí thư huyện ủy, 2 nhiệm kỳ được tín nhiệm khá cao, 99% và 100% cấp ủy huyện, 2 nhiệm kỳ cấp tỉnh trên 90% và 100%, được giới thiệu bầu đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đạt số phiếu 99%.
Sự thay da đổi thịt nhanh của huyện mới, trước hết là nhờ sự gắn bó đoàn kết của Đảng bộ và nhân dân, của Ban chấp hành, Ban thường vụ huyện ủy qua hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng, và được sự chỉ đạo, giúp đỡ nhiệt tình cấp trên, của các sở, ban, ngành tỉnh và các địa phương bạn, góp phần cùng với huyện làm tăng trưởng phát triển đồng bộ, vững chắc trên các lĩnh vực, hệ thống chính trị được ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Về cá nhân tôi, với trách nhiệm là người đứng đầu của Đảng bộ qua hơn 10 năm được cấp trên và Đảng bộ, nhân dân giao phó, mới có dịp để các đồng chí, đồng đội, những người lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp tôi và các anh, chị ở địa phương đóng góp nhiều ý kiến cho tôi, một người đã gắn bó gần hết đời mình với quân đội và tham gia xây dựng địa phương 45 năm ròng rã, để lại cho tôi nhiều điều đáng nhớ và đáng trân trọng.
Có thể xem những lời phát biểu của các đồng chí, đồng đội, các anh, chị từng sống chung, công tác qua các thời kỳ ghi lại sau đây là những ý kiến nhận xét, đánh giá về quá trình công tác của tôi.
- Đồng chí Tròn từ một chiến sĩ cứu thương cho đến tốt nghiệp y tá, y sĩ luôn giữ được hoàn thiện về y đức, làm cho anh, em đơn vị trung đoàn, sư đoàn đều thương mến và cảm phục. Với trình độ chuyên môn, kinh nghiệm dày dạn sáng tạo, phẩm chất đạo đức trong sáng của người chiến sĩ cách mạng, tận tình yêu thương chiến sĩ, thương bệnh binh như chính bản thân mình, còn là người chiến sĩ dũng cảm, đầy lòng gan dạ, cũng là người chiến sĩ hoả lực (xạ thủ súng cối). Khi đồng đội bị thương, sẵn sàng xả thân vì nhiệm vụ, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến đấu, tận tụy với công việc chăm sóc, cứu chữa thương bệnh binh.
- Đồng chí Tròn vừa làm tốt nhiệm vụ chuyên môn, vừa cải thiện đời sống, nuôi dưỡng thương bệnh binh. Đồng chí Tròn nổi lên là một đồng chí rất trẻ nhưng rất tận tụy trong công tác chuyên môn (có tính quyết đoán, sáng tạo), dũng cảm trong chiến đấu để bảo vệ thương bệnh binh đến cùng. Xin tặng mấy câu thơ:
Một thằng bé hôm nào mới ngây thơ
Hôm nay anh dũng đứng dưới cờ
Ngoi đỏ hồng hồng môi học sữa
Đẹp mộng tương lai, đẹp ước mơ
Nhìn nó tôi cười, nó cũng cười
Lá cờ trước gió đượm màu tươi
Mang tên danh dự anh giải phóng
Đẹp lắm em ơi đẹp nhất đời!
- Đồng chí Tròn dù ở bất kỳ cương vị nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ một cách mẫu mực và rất xứng đáng với danh hiệu cao quý.
- Đồng chí Tròn toát lên một đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo, đầy lòng gan dạ và dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng. Thành tích của đồng chí đã góp phần tô đẹp thêm truyền thống của Trung đoàn.
- Tôi rất mến và cảm phục trình độ chuyên môn của đồng chí Tròn, đồng chí luôn là tấm gương, là chỗ dựa tinh thần cho toàn đơn vị trung đoàn.
- Đồng chí Tròn sau khi chuyển ra khỏi quân đội về địa phương vẫn phát huy tốt bản chất trong sáng của “Anh Bộ đội Cụ Hồ”, lập được những thành tích mới, không so đo nhiệm vụ được phân công, không kèn cựa địa vị, không dao động trước những khó khăn. Quan điểm chính trị vững vàng, luôn phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, đạo đức tác phong được mọi người yêu mến, tin cậy.
- Trong công tác đồng chí Tròn luôn sáng tạo, có chiều sâu trong công việc, biết lắng nghe, bình tĩnh xử lý các vấn đề phức tạp.
- Ưu điểm của đồng chí Bảy Tròn: Tận tâm công việc, vì lợi ích chung không vì lợi ích riêng, dù làm cán bộ ấp hay làm Bí thư Huyện uỷ cũng không kèn cựa địa vị, vẫn hết lòng với công việc. Điều tâm đắc là đồng chí Bảy Tròn sống có nghĩa, có tình, chung thuỷ với quân đội, biết nơi mình rèn luyện lớn lên và trưởng thành, sau khi ra khỏi quân đội bất kỳ ở cương vị nào cũng quan tâm đến đội ngũ quân đội.
- Tôi, với cương vị Chủ tịch Hội cựu chiến binh tỉnh, tiếp xúc với các nhân chứng sống cùng chiến đấu với đồng chí Bảy Tròn, khẳng định đồng chí có nhiều hành động anh hùng, chỉ cần một hành động mà báo cáo nêu lên cũng đã xứng đáng. Sau hoà bình, thành tích đúng như nhiều đồng chí đã nêu, đồng chí Bảy Tròn là con người khó kiếm.
- Đồng chí Bảy Tròn vừa công tác vừa kết hợp lao động, thu nhập hợp lý, nguồn lợi làm giàu từ kinh tế vườn, đây là điều kiện tốt cho đồng chí tham gia công tác xã hội. Gia đình vợ con, anh em không dựa dẫm, lợi dụng chức quyền để làm riêng tư, gia đình chấp hành rất tốt những quy định của Đảng và Nhà nước. Luôn gương mẫu với phong cách giản dị, trung thực chân tình. Đồng chí luôn là trung tâm đoàn kết, được cán bộ, chiến sĩ, đồng đội và nhân dân tin yêu.
Tôi hai lần bị cấp trên phê bình, một lần lúc tôi làm Phó chủ tịch huyện và một lần lúc tôi làm Bí thư huyện. Tính tôi hay dễ dãi thương người. Tôi sống trung thực, thật thà với chính mình, nhưng cũng thẳng tính, dễ mích lòng với mọi người. Cái tâm tôi không hề ác ý với ai. Cũng vì tính tình và sự trung thực ấy, có khi không cân bằng được các mối quan hệ, nên cũng có người không bằng lòng.
Tôi và gia đình rất cám ơn các cấp lãnh đạo tỉnh và huyện, những đồng chí, đồng đội, bạn bè thân thiết giúp đỡ cho tôi và gia đình khi gặp những gì không được may mắn. Cả cuộc đời tôi vẫn ấp ủ, day dứt một nỗi niềm là khi mẹ tôi chết mà tôi không được biết.
Để ghi nhớ công ơn của đồng bào, đồng chí và nhân dân nơi đã từng nuôi nấng, giúp đỡ tôi trong những năm tháng chiến đấu, về lại chiến trường xưa, tôi và gia đình thường xuyên giúp đỡ những người dân gặp khó khăn, khi thì tặng cây giống, lúc thì giúp đỡ phân tro. Nhân dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, gia đình tôi đã tặng một căn nhà tình nghĩa cho một đối tượng chính sách có hoàn cảnh khó khăn ở xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức.
Có được vinh dự và hạnh phúc hôm nay, tôi vạn lần ơn Đảng, ơn Bác Hồ và công ơn những người đi trước, của những đồng đội đã hy sinh trên các chiến trường. Tôi xin hứa phát huy bản chất "Anh Bộ đội Cụ Hồ", tiếp tục cống hiến những gì mình làm được cho nhân dân, cho đất nước để giữ vững và xứng đáng danh hiệu cao quý mà Đảng và Nhà nước trao tặng: “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Châu Đức, ngày 30 tháng 4 năm 2006
No comments:
Post a Comment